Học hỏi từ những người thành đạt

Sóng

Thanh viên kỳ cựu
Thành viên BQT
15/9/08
1,274
13,510
113
Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM
kynangsong.org
#1
Câu hỏi liên quan đến KHÁT VỌNG
24/09/2008
Ông Nguyễn Văn Phước – Giám đốc công ty sách First News

1. Khát vọng có quan trọng không? Nếu không có khát vọng thì có thành công được không?

Mr. Nguyễn Văn Phước: Trong cuộc đời mỗi chúng ta có thể lựa chọn nhiều cách sống khác nhau, có những người chỉ biết ngồi chờ cơ hội đến và tận hưởng, có những người luôn khao khát hành động vươn lên tìm cho mình một lối đi riêng; với mỗi sự lựa chọn cuộc đời sẽ trả cho họ những số phận khác nhau. Nếu biết sống với khát vọng của mình bạn sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn, khát vọng sẽ giúp bạn có một định hướng vững vàng, có động lực vượt qua những khó khăn, thử thách để làm được những điều bạn mong muốn.

Trên hành trình đi đến thành công đối với các bạn trẻ hiện nay việc có một khát vọng mãnh liệt nằm trong sức mạnh nội tâm là điều hết sức cần thiết. Nếu không mang trong mình một khát vọng thì bạn khó có thể cảm nhận được dư vị của thành công. Bởi thành công, hạnh phúc là một cảm giác ta đón nhận được trên từng chặng đường trải nghiệm chứ không phải là ở một điểm đến.

2. Khác biệt giữa khát vọng cháy bỏng với ước muốn thông thường là gì?

Mr. Nguyễn Văn Phước: Con người luôn luôn khát khao và mong muốn những điều tốt đẹp sẽ đến với mình, có những ước muốn mang tính lâu dài nhưng có những ước muốn mang tính nhất thời.

Hiện nay, cuộc sống xã hội ngày càng cải thiện, các bạn trẻ có nhiều cơ hội phát triển nhưng sẽ phải đứng trước nhiều khó khăn thử thách: đó là những ước muốn thông thường, hài lòng với những gì mình đang có. Những ước muốn thông thường sẽ khó có thể trở thành hiện thực bởi nó chỉ dừng lại ở việc “ước” và “muốn”.

Khát vọng mãnh liệt thường gắn liền với một ước mơ rộng lớn mang lại giá trị cho mọi người xung quanh, kèm theo một kế hoạch hành động rõ ràng, một ý chí luôn thôi thúc họ vượt qua những khó khăn trở ngại để làm được những điều họ mong muốn. Trong chiến tranh đã biết bao tấm gương thanh niên xung phong, những chiến sỹ lao vào chiến trường, phải cận kề giữa sự sống và cái chết để chiến đấu, hi sinh cho tổ quốc, họ làm được những điều phi thường đó chỉ vì họ có một khát vọng lớn lao – khát vọng mang lại hòa bình, độc lập cho dân tộc.

3. Những người thành công mô tả khát vọng của mình lúc bắt đầu khởi nghiệp như thế nào?

Mr. Nguyễn Văn Phước: Ngày nhỏ, tôi rất thích đọc sách, tôi tìm được từ sách rất nhiều điều thú vị về giá trị cuộc sống nên những ngày đầu khởi nghiệp khát vọng của tôi là phải làm một điều gì đó mới mẻ mang lại ý nghĩa từ những trang sách cho độc giả, tôi không muốn đi theo lối mòn hoặc khuôn khổ nhất định. Chính khát vọng đó đã giúp tôi khẳng định mình, phát huy khả năng sáng tạo, tự do trong tinh thần và đón nhận được nhiều tình cảm ưu ái từ độc giả của FirtsNews.

4. Làm thế nào để duy trì khát vọng cho đến lúc thành công?

Mr. Nguyễn Văn Phước: Cuộc sống có rất nhiều điều thú vị đang chờ đón chúng ta khám phá và có nhiều việc cho ta làm. Tuy nhiên, cuộc sống cũng có rất nhiều khó khăn thử thách, để duy trì được khát vọng tôi đã phải rèn luyện quan điểm sống từng ngày, rèn luyện sức mạnh từ nội tâm để hiểu cuộc đời hơn; thắng không kiêu, bại không nản, mỗi lần thất bại thì nhìn nhận lại mình và điều chỉnh cách làm sao cho phù hợp.

Cuộc đời là một chuỗi “cho” và “nhận”, chia sẻ những giá trị mà mình có được và làm được với những người xung quanh cũng là một động lực giúp cho tôi có niềm tin vào cuộc sống, có động lực vượt qua những khó khăn để theo đuổi khát vọng của mình.

Trong quá trình làm sách, FirstNews luôn luôn muốn khám phá những nhu cầu tiểm ẩn nằm sâu bên trong con người, không muốn chạy theo những nhu cầu thông thường hiện hữu, chính điều đó đôi lúc khiến tôi phải đối mặt với những khó khăn nhất định: bị ăn cắp bản quyền sách, gặp khó khăn trong quản lý….Thật may mắn, tôi có được điểm tựa tinh thần là những bức thư động viên, chia sẻ của độc giả về giá trị từ cuốn sách của Firstnews đã tiếp cho tôi niềm tin tiến lên phía trước.

5. Để có được khát vọng cháy bỏng có khó không? Ông/bà có thể tư vấn cho các bạn trẻ cách để đánh thức khát vọng được không?

Mr. Nguyễn Văn Phước:Thật khó đánh thức khát vọng từ những con người chỉ biết bằng lòng với nhân sinh quan của họ bởi cách sống và suy nghĩ của một người bị phụ thuộc vào khá nhiều yếu tố: giáo dục, lối sống gia đình, xã hội ... Để có một khát vọng cháy bỏng, trước hết các bạn trẻ cần có một lẽ sống cho riêng mình và luôn luôn trăn trở, khát khao, hành động hướng về những giá trị sống mà các bạn đặt ra, rồi một ngày các bạn sẽ ngộ thấy rằng bạn đang mang trong mình một khát vọng cháy bỏng.

6. Ông/bà có lời khuyên nào muốn chuyển tới cho những người đã đánh thức được khát vọng - để theo đuổi mục tiêu của cuộc đời họ - nhưng còn đang gặp rất nhiều khó khăn, thách thức?

Mr. Nguyễn Văn Phước:Hãy giải thuật hóa ước mơ của bạn thành từng bước cụ thể với những mục tiêu nhất định cần đạt được trong từng thời gian phù hợp, khi bạn đã hoàn thành được một mục tiêu nào đó, nó sẽ tiếp thêm động lực cho bạn hoàn thành những mục tiêu lớn hơn. Hãy trau dồi những kỹ năng cần thiết cho cuộc sống của bạn: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc, rèn luyện sức mạnh nội tâm… để đương đầu với những khó khăn, thử thách mà bạn phải trải qua trong cuộc đời. Khát vọng chỉ được nảy mầm trong thực tế khi nó được bắc cầu bằng sự đam mê, lòng nhiệt tình và hành động mạnh mẽ mang lại ý nghĩa cho cuộc sống.

Nguồn: www.conduongthanhcong.com
 
Last edited by a moderator:
Thích: 2 people

Sóng

Thanh viên kỳ cựu
Thành viên BQT
15/9/08
1,274
13,510
113
Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM
kynangsong.org
#2
Nếu Bill Gates châu Á là sinh viên Việt Nam...

17/06/2008 08:47:45
"I don’t want people to remember us because
of our wealth and business success, but of how
we have been useful to other people.
I want to be used by people, especially poor people"

Steve Chang - Founder, InnovGreen Corporation
Co-Founder, TrendMicro

(SVVN)Steve Chang được mệnh danh là "Bill Gates châu Á" khi ông là người sáng lập (chỉ với 5.000 USD) và chèo lái tập đoàn Trend Micro (*) đến với thành công ngày nay (được định giá hơn 6 tỉ USD trên thị trường chứng khoán). Cách đây 1 năm, PV SVVN đã phỏng vấn Steve Chang khi ông đến Việt Nam phát triển mô hình công ty xã hội InnovGreen. Tuần qua, ông trở lại Việt Nam và đã có cuộc gặp gỡ hết sức cởi mở với sinh viên Hà Nội nhân dịp ra mắt cuốn sách nói về bí quyết thành công của Trend Micro (Xu thế không gì ngăn cản nổi) tại Việt Nam. Trong tình hình kinh tế Việt Nam đang có nhiều biến động, SVVN đã đặt giả thiết: "Nếu ông là sinh viên Việt Nam bây giờ thì ông sẽ làm gì"?
Steve Chang: Là sinh viên thì nhiệm vụ hàng đầu phải là học rồi. Học để biết cách học thực sự chứ không phải học thuộc lòng các thông tin do thầy giáo cung cấp. Chúng ta đang sống trong thế giới phẳng, chỉ cần vào google là có các thông tin cần thiết. Vậy thì nhớ các thông tin làm gì cho nặng đầu. Phải học được phương pháp học tập hiệu quả nhất. Đấy mới là học thật sự. Học thực sự thì mới có tri thức thực sự. Bất kỳ ở đâu, ở thời nào, tri thức cũng là sức mạnh. Có tri thức thì chẳng bao giờ bạn sợ mình nghèo cả. Có sinh viên Việt Nam hỏi tôi là Bill Gates bỏ học giữa chừng, nhưng vẫn thành công với công việc kinh doanh. Vậy thì sinh viên có cần thiết phải học hết đại học không. Tôi trả lời là có.
Sinh viên hay hỏi ông câu gì? Và ông trả lời thế nào?
Đâu là bí quyết thành công. Trong kinh doanh bây giờ cần cù khó bù được thông minh. Nếu bạn chăm chỉ làm thêm vài giờ trong ngày, các đối thủ của bạn cũng có thể làm việc như thế (thậm chí là hơn). Vậy để thành công thì mỗi người cần phải có sự khác biệt (trong đó đã bao gồm cả sự sáng tạo). Nhưng đó phải là sự khác biệt thực sự, sự khác biệt được tạo ra từ con người thật sự của bạn. Hãy luôn là chính mình và tạo ra một sự khác biệt. Đấy mới là sự khác biệt dẫn đến thành công.

Người bạn đời của ông cũng là người lãnh đạo tập đoàn với ông. Khi ra các quyết định kinh doanh quan trọng, ông có bị ảnh hưởng của vợ không?
Lúc mới khởi nghiệp tôi muốn vợ làm cùng vì nếu thế thì mình không phải trả lương (cười). Tôi bớt được một khoản trong lúc khó khăn. Đấy là cái lợi đầu tiên. Sau này khi công ty lớn mạnh, chúng tôi vẫn bàn bạc với nhau mỗi khi đưa ra quyết định quan trọng.

Giới trẻ muốn khởi nghiệp có thể học hỏi được gì từ kinh nghiệm kinh doanh của ông?
Muốn thành đạt thì mỗi người cần phải xây dựng cho mình một phông văn hóa thật vững chắc. Doanh nghiệp muốn thành công cũng phải có văn hóa (doanh nghiệp) riêng. Tôi quan niệm rằng văn hóa doanh nghiệp là những giá trị mang tính nền tảng được thống nhất từ lãnh đạo đến nhân viên và mọi người tự giác thực hiện. Văn hóa của Micro Trend chúng tôi gói gọn trong 4 chữ C và 1 chữ T.

Chữ C đầu tiên là Change (Thay đổi). Tất cả mọi thứ luôn luôn thay đổi. Bản thân chúng ta cũng luôn luôn thay đổi. Đối thủ của chúng ta cũng luôn luôn thay đổi. Nhu cầu trong xã hội cũng luôn thay đổi. Chính vì thế thay đổi là yếu tố sống còn của công ty chúng tôi.

Chữ C thứ hai là Creativity (Sáng tạo). Thể hiện qua cách làm việc mới, tạo ra các sản phẩm mới, cách tiếp cận vấn đề mới.

Chữ C thứ ba là Communication (Trao đổi). Chúng tôi có 4.000 nhân viên đến từ khoảng 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Communication ở đây không chỉ đơn giản là đối thoại mà là sự chia sẻ thông tin giữa nhân viên với nhau, nhân viên với lãnh đạo, lãnh đạo với lãnh đạo. Tất nhiên là phải biết tiếng Anh thì mới nói chuyện với nhau được (cười).

Chữ C cuối cùng là Customer (Khách hàng). Khách hàng với chúng tôi là thượng đế. Mong muốn của khách hàng quan trọng hơn mong muốn của các kỹ sư, nhân viên chúng tôi. Chúng tôi phải đặt mình vào vị trí của khách hàng để đem lại những dịch vụ hoàn hảo nhất.

Chữ T duy nhất của chúng tôi là Trust (Lòng tin). Chúng tôi tin mọi người và muốn xây dựng lòng tin ở mọi người vào sản phẩm của chúng tôi.

Văn hóa doanh nghiệp quyết định đến sự bền vững trong các hoạt động của công ty. Có doanh nghiệp kiếm được rất nhiều tiền trong một thời điểm nào đó, nhưng không duy trì được mức độ tăng trưởng. Đó là bởi vì họ chưa chú ý xây dựng văn hóa doanh nghiệp.

Ông thường yêu cầu nhân viên làm việc gì ?
Tôi yêu cầu họ mỗi ngày nên làm được một điều gì đó mới mẻ. Cụ thể hơn là hãy đọc sách mỗi ngày.

Bây giờ ngồi nghĩ lại những gì mình đã làm, ông có điều gì luyến tiếc không?
Về công việc tôi không có gì phải hối tiếc cả vì tôi thích phần mềm và tôi đã làm được việc đó với Micro Trend. Tôi có hai người con, người con thứ hai cũng trạc tuổi các bạn sinh viên ở đây. Tôi tiếc là ngày xưa mải mê lao vào công việc mà ít có thời gian dành cho các con tôi, gia đình tôi. 80% thời gian của tôi là dành để đi lại khắp nơi trên thế giới. Bây giờ tôi có nhiều thứ, tôi muốn bù đắp lại, nhưng không được.

Theo Sinh Viên Việt Nam
 

Sóng

Thanh viên kỳ cựu
Thành viên BQT
15/9/08
1,274
13,510
113
Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM
kynangsong.org
#3
Nhà quản trị cao cấp Hoàng Ngọc Diệp- “ Mỗi ngày là sinh nhật và cũng là ngày cuối”

Chiến lược quyết định tất cả. Bởi nếu có ý định tốt, tư tưởng hay, đầu tư mạnh mà không có chiến lược phù hợp, thì cơ hội thành công gần như là con số không.

Hoàng Ngọc Diệp là ai?
Sinh ở Nha Trang, trong một gia đình đông anh chị em, có anh cả và em gái út là những người nổi tiếng trong giới văn nghệ.Trưởng thành ở Úc.Làm việc, và lang thang trên 28 nước.Năm 1991 về Việt Nam và ở luôn tại đây. Làm GĐ và Trưởng đại diện của khá nhiều công ty nước ngoài.Giúp thành lập 7 công ty tại Việt Nam có 5 công ty khá thành công, nhất là ởlĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin. Hiện làm GĐ Cao cấp của Qualcomm (Mỹ) tại Việt Nam, và đang có hướng chuyển đổi công việc.Cùng vợ và con trai (11 tuổi) sống ở Sài Gòn.
Đấy là phác thảo chân dung của Nhà Quản trị Cao cấp mà chúng ta sẽ tiếp xúc trong cuộc trò chuyện này. Và đây cũng là lần đầu tiên anh bày tỏ những chuyện khá riêng tư của mình với báo chí - một cuộc đời sôi động và cũng nhiều biến cố.

Lang thang như một kẻ hát rong...

Có lần anh nói, khi nhỏ anh ước mơ trở thành một nghệ sĩ trình tấu guitar?
Lúc nhỏ tôi cực kì yếu đuối. Vì sinh thiếu tháng nên đến năm 12 tuổi vẫn là người “chậm”, học hành ngu muội. Tôi nghĩ hay là mình học đàn, để trở thành một guitarist lừng danh, và sau đó chết yểu, cho người đời luyến thương. 13 tuổi, tôi mới hết bị hen suyễn, học hành tốt hơn, và cũng dần dần nhận ra một điều: khó mà học nhạc tử tế nếu như mình cứ là một thằng “gà mờ”, không có kiến thức rộng.

Anh tự học nhạc?

Anh tôi (sau này là guitarist, nhà soạn nhạc, nhà nghiên cứu, dịch giả Hoàng Ngọc Tuấn – pv) lớn hơn tôi 3 tuổi, nhưng hai anh em chơi thân với nhau từ nhỏ. Chính anh Tuấn là người dạy đàn và dẫn dắt tôi trong thế giới nghệ thuật mấy mươi năm qua. Anh ấy và những người bạn thân là những người xuất chúng, tôi bị hay được được ảnh hưởng bởi họ. Cũng qua họ, tôi biết yêu mến và kính trọng hơn những văn nghệ sĩ. Tôi được họ dạy nhạc, văn chương, hội họa và hướng dẫn cách cảm nhận, cảm thụ cái đẹp. Và cũng chính họ khiến tôi luôn mặc cảm: mình không thông minh, mình học dốt, không đủ đĩnh đạc, không đẹp trai, không có sức khỏe... Để rồi sau đó phải mất hết mười mấy năm, tôi mới giải quyết được cái mặc cảm của thời con nít này.

Và anh đi Úc là để thỏa mãn cái ước mơ “dao kéo” đó?

Đó cũng là một dự định rất mơ mộng. Khi ra đi, tôi thấy xung quanh mình quá nhiều người bị bệnh tật, tôi muốn về giúp họ. Nhưng y khoa đâu phải chuyện chơi, tiếng Anh quá khó, tôi bỏ học sau một thời gian trầy trật. Tôi chuyển qua học nghề châm cứu, nhưng rồi cũng không thấy tương lai, vì không biết mình sẽ giúp những người bệnh tật ra sao đây. Chính lúc này, vào cuối thập niên 70, tôi nhận ra anh Tuấn của mình là một thiên tài. Anh ấy đã mất một thời gian rất ngắn để học cùng lúc nhiều ngôn ngữ, còn tập đàn thì tôi phải mất thời gian gấp vài mươi lần so với anh mình để tạm trình diễn được. Tôi ra đường đi hát rong,và bắt đầu học về quản trị.

Anh chơi nhạc trong bao lâu, và ở những đâu?

Chơi đàn đến năm 1983, và ở khắp mọi nơi, từ vỉa hè, quán bar, cho đến các sân khấu. Tôi đi dạy nhạc ở các câu lạc bộ, các tư gia..., và tiếp tục nuôi dưỡng cái ước mơ trở thành một “người thầy tinh thần” trong âm nhạc. Nói chung, bằng cây đàn, trong mấy năm tôi đã thỏa mãn được đam mê và cái dạ dày của mình.

Sao đến năm 1983 anh dừng lại? Hay lúc ấy anh biết mình không bao giờ trở thành một “bậc thầy tinh thần”?


Cho tới khi hiểu được mình có thể làm được nhiều điều khác ý nghĩa hơn, ích lợi hơn là chơi nhạc, thì tôi bỏ sức chuyên tâm hơn cho lĩnh vực quản trị dù vẫn tiếp tục trình diễn. Năm ấy, anh Tuấn qua Úc. Đón anh ở phi trường với cây guitar của mình, tôi giao cây đàn lại cho anh, và quyết tâm đi sâu vào một con đường khác.

Sau 25 năm giao cây đàn lại cho huynh trưởng, anh thấy quyết định đó có chính xác không?

Quá chính xác. Về mặt nghệ thuật, dường như ông trời đã không công bằng với tôi, và quá ưu đãi với anh tôi. Anh viết văn, làm nghiên cứu, phê bình, soạn nhạc, trình tấu, diễn kịch, đi dạy, dịch thuật... kiểu gì anh ấy cũng làm khá dễ dàng, và có thành tựu. Riêng trong lĩnh vực soạn nhạc, rất nhiều tác phẩm của anh đã đi vào giáo trình giảng dạy ở các trường chuyên âm nhạc, trở thành bài thi guitar trong nước và quốc tế. Trong lĩnh vực âm nhạc, anh cũng đã có tên trong cuốn từ điển bách khoa uy tín trên toàn thế giới. Nếu anh Tuấn không qua Úc, tôi đã không có sự so sánh, tôi đã không đủ dũng cảm để bỏ cây guitar, và chắc bây giờ, tôi đã chết ngoài đường – chết bằng cái cách của một kẻ hát rong, một xẩm ca, trên một vỉa hè nào đó, vì say mèm và mất định hướng.
Và đó là lý do duy nhất?

Trong đời này làm gì có lý do duy nhất, tôi đã bị dằn vặt với rất nhiều thứ. Và chỉ khi anh Tuấn xuất hiện, tôi mới biết mình nên bỏ đàn, bởi nếu thang điểm cho anh ấy là 10 thì tôi chỉ được có 4. Đam mê và khổ luyện thì chưa chắc ai hơn ai, nhưng tôi thiếu năng khiếu bẩm sinh. Khi trình diễn, nếu tôi phải vận dụng đến 10 thành công lực, anh Tuấn chỉ cần 4 là đủ. Tôi nghiệm ra một điều rằng: âm nhạc là đam mê và sở thích, nhưng nó chỉ là ước mơ hết sức cá nhân, và chắc chắn tôi (kẻ bất tài) sẽ không làm được gì cho người khác. Tôi đã thực hiện một cuộc đánh đổi nhẹ nhàng, dù có nhiều luyến tiếc.

Ghét tiếng Anh
Đến Úc năm 1977, khi sắp 18 tuổi, anh mất bao lâu để hoà nhập được với tiếng Anh?
Lúc nhỏ tôi rất ghét học tiếng Anh. Sau 6 tháng, tôi mới chập chững đủ để đi chơi đàn và dạy nhạc bằng tiếng Anh vào cuối tuần. Thêm một năm sau nữa thì tiếng Anh mới tạm được.

Theo một thống kê của người Mỹ vào năm 2005 mà tôi đọc được, vì sĩ diện “dân tộc” xin không công bố con số cụ thể, nhưng có thể nói phần lớn người Việt di cư lúc trưởng thành, dù đã mấy chục năm sau, khả năng tiếng Anh cũng chưa đạt được mức trung bình. Anh đã học bằng cách nào trong một năm ấy để đạt mức “tạm được”?
Lúc nhỏ ở Nha Trang, nhà gần biển, và người Mỹ ở đó rất nhiều, chính họ làm cho bãi biển vốn thơ mộng và yên bình trở nên những vùng cấm, những nơi nguy hiểm, mất vệ sinh. Bao cao su, kim tiêm, thuốc lá, vỏ kẹo... hiện diện khắp nơi. Chính người Mỹ đã làm cho tôi dị ứng với tiếng Anh, vì lúc ấy suy nghĩ khá đơn giản: đó là thứ tiếng của kẻ xấu, của những người đi xâm lược, của một bộ máy miền Nam đang tham nhũng, thối nát. Trong khi gia đình tôi, mấy anh em đều nhai ngấu nghiến nó, anh tôi còn học cả 3-4 thứ tiếng khác nữa. Tôi thì chỉ học đủ để hát nhạc, chơi đàn vớ vẩn. Sang Úc, cái khả năng kì thị ấy lộ ra rõ ràng: mình là một cục ngu. Trong thời kỳ đầu, đi làm là chủ yếu, thời gian đâu mà đi học, tôi đành chọn cách học thuộc lòng. Quyển sách đầu tiên tôi chọn, hình như là cuốn Across the River and Into the Trees (Băng sông vào rừng), xuất bản năm 1950, sau đó là tác phẩm nổi tiếng The Old Man and the Sea (Ngư ông và biển cả – pv) của E. Hemingway. Tôi mua cuốn này vì hai lý do: tác giả đang thời nổi tiếng, dù tôi cũng chẳng biết gì nhiều về ông, và cuốn sách được bán ở cửa hàng sách cũ, giá chỉ có 50 xu. Tôi đã mất 6 tháng tra từ điển để học thuộc lòng nó, và 5 năm sau tôi mới hiểu được tinh thần tác phẩm.

Trong suốt 6 tháng học thuộc lòng đó, anh có gặp một khó khăn nào không, chắc cũng có người sẽ phê phán sự ngớ ngẩn này của anh chứ?

Không có ai nói tôi ngớ ngẩn cả, mà đa số nói tôi bị điên. Ở sở làm, đó là một xí nghiệp sơn, tới giờ nghỉ là tôi học thuộc lòng, thấy thế, có người còn nói với tôi: cần gì học cho mệt, như tao đây, cứ sống lâu là khắc có nhà cửa, xe cộ, “anh” với “em” mà làm gì cho chết xác. Tôi nói lại với họ: trong mọi giá, tiếng Anh của tôi phải bằng và hơn những người Úc bình thường trong vài năm, không thì chẳng nên làm một công dân Úc làm gì. Họ chế giễu và cho tôi là điên. Vì mâu thuẫn này, tôi đành nghỉ việc ở sở làm, chọn lối sống như đã nói ở trên: chơi đàn và hát rong.
Đến bây giờ thì tiếng Anh của anh thế nào rồi, đã hơn được người Úc chưa?

Tôi chưa bao giờ thi thố trong chuyện này, vì càng học càng biết rõ một điều: xã hội có người cao người thấp, trong ngôn ngữ mình làm sao sánh được với các nhà văn nhà thơ, các chuyên gia ngôn ngữ. Tuy nhiên, nếu so với những người Úc bình thường, hơn hay không thì chưa biết, nhưng chắc chắn là không thua rồi. điều quan trọng hơn cả là chính mâu thuẫn ở hãng sơn đã giúp tôi thay đổi, đi từ một người làm thuê để trở thành một nhà quản lý. Tôi cảm ơn vì điều đó.

Học quản trị vì muốn cứu nhiều người. Anh đã thay đổi như thế nào, ý nói là khi anh quyết tâm chọn học nghề quản trị?


Nếu có trở thành bác sĩ thì cũng phải mất mấy chục năm kiếm tiền, để đủ tiền mà về Việt Nam làm bác sĩ thiện nguyện. Vì nếu không có tiền để sống, thì mình phải lấy tiền của bệnh nhân, mà như vậy thì đâu có cứu được nhiều người. Tôi phải tìm cách kiếm tiền thật nhanh, thật nhiều, và đương nhiên phải bằng một nghề khác. Đó là nghề Quản trị (Manager): quản lý, lập kế hoạch, giải quyết các chiến lược cho các tổ chức, từ cấp độ công ty lên tới cấp độ thành phố, quốc gia, nhà nước, khu vực... Tôi chằm hằm vào việc học này, trước tiên là để kiếm tiền cho ước mơ trẻ con của mình, nhưng sau một thời gian học về quản trị thì lại thấy chính đây là nghề có thể cứu được nhiều người hơn là làm bác sĩ! Tôi vừa đi học vừa đi làm manager, sau 4 năm tôi mới biết được thật sự giá trị của quản trị là gì.

Anh có thể chia sẻ về cái biết quý giá này không?

Khi nghe tạp chí Mỹ Thuật muốn phỏng vấn, tôi ngần ngừ mãi không muốn nhận lời. Không phải tôi chảnh, sợ lộ bí mật nghề nghiệp, mà sợ mình sẽ phải “kể công”, phải nói chuyện chuyên môn quá khô khan. Tôi là người bình dân, không thích cầu kì, chỉ muốn nói chuyện tâm tình thôi, thích ngồi vỉa hè cafe, uống bia. Công thức có thể hiểu đơn giản như sau: Quản trị = khoa học + nghệ thuật. Bởi những công thức về quản trị, về quản lý thì rất cứng nhắc, lạnh lùng, mà môi trường sống và con người thì muôn hình vạn trạng, đòi hỏi những điều khác. Và những điều khác đó đòi hỏi nghệ thuật trong quan hệ, diễn đạt, thuyết phục và chi phối...

Đỉnh cao về nghề quản trị của anh ở Úc ở mức độ nào?

Đó, tôi rất sợ những câu hỏi kiểu này, vì thế nào là cao, và thế nào là thấp? Đó là chưa nói trong nghề quản trị, chức vụ và đẳng cấp, nhiều khi rất khó nói, cấp độ nào cũng quan trọng cả. Tuy nhiên, tôi khá may mắn, khi còn đang học tôi đã làm giám đốc cao cấp cho một công ty ở Sydney. Cũng trong thời gian này, tôi tiếp cận và được sự hỗ trợ của ông Ken-ichi Omae, người được xem là guru (bậc thầy) ngành quản trị trên khắp thế giới. Hôm đó ông Omae thuyết trình về cuốn sách Beyond Border (Ngoài biên giới) của mình, sau lần xin trao đổi trực tiếp, ông đã thay đổi hoàn toàn về tư duy quản trị của tôi. Qua câu chuyện ngắn ngủi với ông, tôi mới biết được khái niệm: Quản trị chiến lược. Chiến lược quyết định tất cả. Bởi nếu có ý định tốt, tư tưởng hay, đầu tư mạnh mà không có chiến lược phù hợp, thì cơ hội thành công gần như là con số không.

Với một nước như Việt Nam, tư tưởng của Omae sẽ được áp dụng như thế nào, và tại sao anh lại quay trở về khi cơ hội ở Úc đang rộng mở?

Tôi luôn nghĩ rằng mình sẽ trở về, chưa bao giờ nghĩ khác hơn, và đây cũng là lý do khiến cho gia đình tôi gãy đổ. Vợ trước của tôi đã không chịu được cái quan điểm này. Ngay sau lần về nước đầu tiên, cô ấy đã ly dị tôi. Thế tại sao tôi vẫn muốn về ư? Cũng giống như bao nhiêu lời tự hứa của những con người bình thường thôi, trước khi đi tôi đã hứa, có cơ hội là sẽ trở về, và tôi đã phải chuẩn bị cho nó mất mười mấy năm. Tư tưởng của Omae cho thấy nhiều cơ hội cho những nước chậm phát triển có thể sẽ dàng hội nhập được thế giới. Sau khi đi nhiều nước tham khảo các mô hình, đặc biệt ở các nước đang phát triển, tôi biết Việt Nam đang là mảnh đất lý tưởng.

Khác biệt giữa hai môi trường Úc - Việt Nam, làm sao anh thích nghi và áp dụng chiến lược quản trị?
Qua kinh nghiệm thực tế làm việc tại các nước đang phát triển, đặc biệt tại vùng Đông Nam Á và Đông Âu trong thập niên 80, tôi đã phải chuẩn bị cho mình những cách thức tiếp cận, thu thập và phân tích thông tin, giải quyết vấn đề... khác biệt nhiều so với các nước phát triển như Úc, Mỹ hay Nhật Bản. Tuy nhiên dù đã chuẩn bị rất nhiều, tôi vẫn phải mất hơn 3 năm để thật sự hiểu môi trường phức tạp của nước mình.

Lúc mới về Việt Nam, anh bắt đầu công việc ra sao?

Tôi chọn hai lĩnh vực: hệ thống quản lý của tổ chức, và chiến lược quản trị. Nhưng lúc bấy giờ, các tổ chức ở Việt Nam không bao giờ, hoặc rất ít khi dám chia sẻ các thông tin nội bộ, nên không thể làm được gì nhiều. Cùng lúc đó, công nghệ thông tin của Việt Nam còn quá hạn chế, với vài trăm nghìn điện thoại, vài nghìn máy vi tính. Tôi đã quyết định nhảy qua lĩnh vực này, vì truyền thông và thông tin quan trọng không kém gì giao thông. Dưới góc độ quản trị, đây là lĩnh vực thách thức nhất, bởi nó đòi hỏi rất nhiều yếu tố khách quan, khi đó vẫn là “vùng kín”, người nước ngoài không thể tiếp cận được. May mắn là đã có những người như anh Mai Liêm Trực chủ động tiếp xúc, tạo điều kiện cho tôi và một số anh em khác làm việc.

Biết anh không thích nói, nhưng phải có con số thì người nghe mới tin. Xin anh tiết lộ một vài cột mốc trong nghề nghiệp của anh ở Việt Nam?

Thật sự ra những đóng góp của tôi, dù có những giá trị nhất định, nhưng vẫn ở mức độ sơ khai bước đầu, rất nhỏ bé. Có thể nghĩ đến ở đây mấy công việc mà tôi đã làm ở cấp độ quản trị:

1) Giới thiệu những công nghệ số mới, môi trường hoạt động quản lý và kinh doanh mới cho lĩnh vực viễn thông;

2) Các giải pháp hỗ trợ phát triển “Cách mạng truyền dẫn Điện thoại và Internet”;

3) Gần đây là mạng vô tuyến cho Điện thoại & Internet về các địa phương, chính nó sẽ là thử thách và thay đổi về Truyền thông trong tương lai gần. Tuy nhiên, ở cấp độ các nhà quản lý của Việt Nam, họ chưa hiểu hết sự thiết yếu và phức tạp của ngành này. Ngay cả những người chịu trách nhiệm chính cũng chưa hiểu hết, kết quả là nhiều dự án thất bại, gây thất thoát rất lớn. Ngành quản trị có thể cứu được nhiều người, và tất yếu, nó cũng có thể gây tổn hại đến nhiều người – nếu làm không đúng.

Mô hình công việc được triển khai như thế nào?

Có 3 cấp độ: 1) Có môi trường kết nối để thông tin được trao đổi, cập nhật; 2) Có thông tin để có chia sẻ; 3) Có đủ các tiêu chuẩn chất lượng, độ chính xác của thông tin và kết nối để hỗ trợ các hoạt động thiết thực hơn cho cuộc sống hàng ngày.

Nhưng cũng vì sợ chi phối đến lối sống đó, nên những nhà quản lý vĩ mô đã rất e dè?

Người ta hay hỏi một cách ngây ngô rằng: bọn trẻ lên mạng coi phim sex, người lớn chơi cờ bạc – cá độ, bọn tội phạm lợi dụng... thì phải làm sao? Nhưng họ quên mất rằng: nước nào cũng vậy, vấn đề là phải ứng xử với nó như thế nào mà thôi. Về mặt quản lý, phải kết hợp với thế giới để cùng quản lý, phải làm sao để đáp ứng được mức độ quản lý bằng mức độ ứng xử văn hóa. Không thể vì những tiêu cực bé nhỏ mà quên đi những mặt tích cực rộng lớn.

Xin anh đơn cử thêm vài vướng mắc mà ta có thể đúc kết thành quy tắc?

Thiếu tầm nhìn ở cấp lãnh đạo vì họ không có những kiến thức và kinh nghiệm cụ thể trong khi đó các nhóm tư vấn cho họ thì không có đủ tầm nhìn hay chuyên môn để tư vấn đúng tầm cỡ vĩ mô này. Thiếu khả năng và kinh nghiệm ở cấp triển khai, có lẽ đây là trở ngại lớn nhất hiện nay.



Trong thành tích của mình, anh đã giúp thành lập 7 công ty tại Việt Nam, có 5 công ty khá thành công, nhất là ở lĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin. Anh có thể cho biết tên những công ty này được không?


Xin thứ lỗi, tôi tuyệt đối không thể trả lời câu hỏi này trên báo chí, vì như vậy, có thể sẽ gây “bất bình” và tổn hại đến quyền lợi của các công ty ấy. Với lại, trong giới thì người ta đã biết rồi, nói lại cũng chẳng để làm gì, đã giúp đỡ thì không nên kể thành tích. Biết đâu sau này, khi tạp chí Mỹ Thuật tiếp xúc với các giám đốc, các doanh nhân nổi tiếng bên đó, chính họ nói sẽ thú vị hơn.

Ung thư di hạch và cơ hội sống = 5%


Trở lại với cây đàn, anh nghĩ giữa âm nhạc và quản trị, chúng có nhiều sự tương đồng không?

Logic, tính học thuật và nghệ thuật của âm nhạc đã đem lại cho tôi rất nhiều ích lợi cho kỹ năng quản trị, quản lý của tôi. Trong những chương trình quản lý dài hơi, tôi hay chia ra thành những phân khúc như các chương của một concerto hay một bản symphony, có dẫn nhập, lắng đọng, cao trào, kết thúc... Có khi kết thúc là cao trào, và có khi là lắng đọng. Nhiều thuộc tính và motif trong âm nhạc rất giống với ngành quản trị. Nói vậy, nhưng đây cũng chỉ là những chuyện vui và kinh nghiệm của cá nhân thôi. Cũng đã đến lúc tôi muốn đánh đổi một lần nữa!
Tính ra thì anh cũng đã bỏ cây đàn trên 20 năm, nay anh định bỏ viễn thông, vậy anh đi đâu?

Sau cơn bạo bệnh từ tháng 08/2005, khi đối diện với cái chết một cách rõ ràng, tôi gần như bị buộc phải thay đổi quan điểm về cách sống. Có những chuyện trước đây là ưu tiên, bây giờ lại không. Trước đây, tôi sẵn sàng diễn đạt cho anh em hiểu trước khi làm, còn bây giờ, tôi sẵn sàng làm rồi mới giải thích cho anh em biết. Trước đây có những chuyện bực dọc, bây giờ cũng những chuyện đó lại thấy không cần thiết. Trước đây có những mối quan hệ phải giữ, còn bây giờ thì lại xem nhẹ như không. Nói chung, tôi đã có quá nhiều thay đổi.

Phải qua đến tận Mỹ, lại vào bệnh viện rất đặc biệt để thay máu, thay tủy sống, căn bệnh đó có thể nói tên ra được không anh?

Non-hodgkin Lymphoma, tiếng Việt gọi là ung thư dị hạch. Cơ hội sống cho các bệnh nhân khoảng 5-6%, phải thay tủy sống và cấy tủy mới. Nói chung là tốn rất nhiều tiền, nhiều công sức. Tôi chữa bệnh bằng tiền công ty + tiền bảo hiểm + tiền túi, may mắn là tôi chưa bị “cháy túi”.

Sau 3 năm, bệnh của anh đã đi vào quỹ đạo yên tâm chưa?

Mức yên tâm của căn bệnh này là 5 năm, mức yên tâm trung bình là 10 năm. Ống cấp cứu vẫn còn nằm trên ngực tôi thêm 1 năm nữa, và mỗi lần 2 tháng phải ra nước ngoài để theo dõi diễn biến... Nhưng dù thế nào đi nữa tôi vẫn thấy mình may mắn, vì những người có bệnh giống tôi, nằm chung bệnh viện đã “đi” hết rồi. Mỗi ngày bây giờ với tôi là một sinh nhật, và cũng là ngày cuối cùng. Nhiều khi tôi nghĩ, giá như ai cũng sống theo cách suy nghĩ này thì chắc là trần gian này đẹp biết bao, vì có quá ít thời gian cho những chuyện “linh tinh”, những hiềm khích, nghi kị, chiến tranh...
Để Qualcomm chọn anh làm Trưởng Đại diện cho họ, rồi giúp rất nhiều trong việc chữa bệnh cho anh, rõ ràng họ có lý do để làm những việc này. Anh có thể cho biết những lý do đó? Anh thấy sao khi anh quyết định nghỉ như thế này đối với công ty và cá nhân anh?
Sự lựa chọn của một công ty về một cá nhân làm việc cho họ cũng tương đương với sự lựa chọn của cá nhân đối với công ty này. Tôi rất vui vì được Qualcomm thấy được khả năng và thái độ sống của mình, cũng như tôi thấy được ở Qualcomm những giá trị tất yếu để mình có thể phần nào làm được những điều mong muốn trong khi ở Việt Nam. Tôi tin là họ đã hài lòng với những đóng góp của tôi đối với các mục đích chính của công ty tại Việt Nam. May mắn hơn nữa là quan điểm chuyên nghiệp của công ty và quan hệ giữa các nhân sự trong công ty của Qualcomm và cá nhân tôi rất rõ ràng, tốt đẹp.

Với những phát triển nhanh chóng của công nghệ 3G tại Việt Nam và nhu cầu hỗ trợ phát triển cho ngành này từ phía Qualcomm, so với sức khỏe, quỹ thời gian còn lại và sự mong ước của tôi, tôi chỉ có thể đóng góp rất ít cho công ty, cũng như công ty cũng chỉ có thể giúp tôi rất ít cho mong ước của mình. Từ đó, việc nghỉ làm cho công ty là một điều hợp tình và hợp lý cho cả hai phía. Tôi biết là cả Qualcomm lẫn cá nhân tôi sẽ vẫn còn tiếp tục có những quan hệ khá mật thiết trong các lĩnh vực chuyên môn trong nhiều năm tới.

Sau hư vô, là thực dụng – theo nghĩa tốt đẹp nhất của từ này, rốt cuộc, anh nghĩ đời người là gì?

Chỉ là một móc xích của hàng triệu, hàng tỷ móc xích khác. Có móc xích to, có móc xích nhỏ, có những móc xích đơn lẻ, có những móc xích phức tạp. Cuộc đời đã qua của tôi là một móc xích khá phức tạp. Móc xích đó đã hình thành rồi, không thay đổi được nữa và tôi chỉ muốn nó hiệu quả hơn cho những móc xích khác mà thôi. Bây giờ, tôi sợ nhất cảnh ngồi máy bay, luân chuyển múi giờ, sợ phải di chuyển từ máy bay về hotel và ngược lại, quá cô đơn và bận rộn một cách vô ích. Bây giờ, tôi vẫn khổ vì cùng lúc phải sử dụng 3, 4 máy di động, không số này reo, thì số khác gọi, khó có một giờ yên ổn. Chính vì thế, tôi lại muốn thay đổi, để kiếm tìm thêm những ngày giờ yên ổn và ý nghĩa hơn.
 

Bình luận bằng Facebook