[Marketing] PR và Marketing khác nhau như thế nào?

Sóng

Thanh viên kỳ cựu
Thành viên BQT
15/9/08
1,274
13,510
113
Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM
kynangsong.org
#1
Sóng nghĩ các bạn học kinh tế nên giúp đỡ mọi người những kiến thức về sự khác nhau giữa Marketing và PR.
Ở đây, không dám múa rìu qua mắt thợ, tớ đóng góp một số kiến thức đã học được về PR.
PR = Quan hệ với giới truyền thông
1. Tổng quan về báo chí Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 700 cơ quan báo chí, 815 tờ báo, tạp chí.
Ta có thể phân loại cơ quan báo chí như sau:
- Báo chí Trung ương: TTXVN, Đài THVN, Đài TNVN, Nhân Dân.
- Báo chí địa phương: Mỗi tỉnh thành có 1 tờ báo, 1 đài PT-TH (TPHCM thì có đài TH riêng và Đài PT riêng) trực thuộc UBND tỉnh, thành phố đó. Trong số các tờ báo trên, chỉ có khoảng 10 tờ là có lãi, còn lại đa số sống nhờ bao cấp.
- Báo bộ/ ngành: Mỗi bộ/ngành đều có một tờ báo. Thậm chí trong một Bộ thì các Cục, Vụ, Viện cũng có thể có tờ báo riêng. Ví dụ: Bộ GT-VT có tờ “Giao Thông Vận Tải”, Bộ này có Cục Đường sắt thì có tờ “Đường Sắt”… Các tờ báo này thường thông dụng trong các bộ ngành đó, không thông dụng ngoài bộ ngành đó.
- Báo hội ngành: Các tờ này chỉ có độc giả hạn chế là những hội viên.
- Báo đoàn thể: Tờ Lao động của Tổng liên đoàn Lao động, Tuổi trẻ của Thành Đoàn TPHCM… Đây là loại báo được đọc nhiều nhất. Do thông tin của báo đoàn thể thường bao quát hơn, thông tin cũng khách quan hơn. Báo đoàn thể không chỉ là báo có số lượng phát hành lớn nhất mà còn là báp được mọi người bỏ tiền ra mua nên thông tin trên đó cũng được ghi nhớ tốt hơn. Đây là đối tượng mà người làm PR cần nhắm tới.
- Báo bán măng-set: Nước ta không cấp phép hoạt động cho một số báo chí tư nhân, do đó có tình trạng “Bán măng-set”: Một số báo bộ/ngành chỉ giữ tên trên danh nghĩa và kiểm soát khâu duyệt còn lại khoán cho công ty quảng cáo tư nhân thực hiện nội dung, tự cân đối tài chính và phải nộp về cho bộ/ngành một khoản tiền. Nhận diện tờ báo này như sau: (tương đối)
+ Địa chỉ liên hệ quảng cáo là do tư nhân quản lý và khác với địa chỉ của tòa soạn. Vì thu nhập từ quảng cáo là nguồn thu chính của tư nhân nên họ nắm khâu này.
+ Nội dung của báo tránh đề cập đến vấn đề chính trị và phê phán chính quyền mà tập trung vào một số nội dung ăn khách như: văn nghệ, thời trang…
+ Các tờ báo này khá dễ dãi với việc đặt hàng, viết bài quảng cáo, thực hiện các chương trình quảng bá cho doanh nghiệp…
Do loại báp “bán măng-set” này có số lượng độc giả khá và nhanh nhạy trong việc hợp tác nên cũng là đối tượng của người làm PR nhắm tới.
Vd: tờ Đẹp mua măng-set của Báo Ảnh VN, tờ Nhà Đẹp mua măng-set của tạp chí Kiến trúc, tờ Tiếp thị&Gia đình, Thể thao ngày nay…
Trình độ làm PR của các công ty lớn bây giờ rất cao: thay vị công ty bỏ tiền ra làm quảng cáo trên báo chí, họ bỏ tiền ra mua hẳn một chương trình. Như vậy, mặc dù họ cũng bỏ một số tiền quảng cáo trên chương trình nhưng tiền sẽ quay về với họ, đồng thời có thể thu được tiền quảng cáo từ các công ty khác. Ví dụ như chương trình Sức sống mới trên VTV1 là của UNILEVER thuê công ty quảng cáo làm. Đây thực chất cũng là chương trình PR của Unilever. Trên thị trường giờ lại có tờ Sức sống mới, như vậy thay vì bỏ tiền ra thì nay Unilever lại thu được tiền quảng cáo từ các công ty khác và khiến người tiêu dùng phải bỏ tiền ra mua.

Vấn đề phong bì của nhà báo: Nói chung đây là vấn đề tế nhị, các doanh nghiệp nên tận dụng những dịp phù hợp để đưa phong bì vừa phải (họp báo, đến tham quan…) để tạo quan hệ lâu dài. Còn nếu chỉ đợi đến khi “có việc” mới đưa phong bì thì đôi khi phải đưa rất nhiều mà chẳng có kết quả gì.

2. Những nguyên tắc xây dựng mối quan hệ với báo chí:

B1: Xem xét đối tượng mà mình nhắm đến là ai, và thường xem các loại báo nào, đài nào?
B2: Xem xét sản phẩm/ cơ quan/ tổ chức của mình thuộc lĩnh vực nào, có những báo nào quan tâm đến vấn đề này?
B3: Có bao nhiêu tờ báo, đài mà mình cần tạo mối quan hệ? Liệt kê.
B4: Cập nhật địa chỉ, điện thoại liên lạc của tòa soạn, đài truyền hình.
B5: Phóng viên của các báo thường được chia về các mảng khác nhau, do đó cần xác định đúng các phóng viên phụ trách mảng mà mình quan tâm.
Chỉ cần đọc một vài số báo gần nhất, thấy tên (bút danh) của phóng viên nào xuất hiện nhiều nhất thì đó chính là phóng viên cần quan hệ. Sau đó, gọi điện đến tòa soạn xin liên hệ trực tiếp với phóng viên đó.
Việc hỏi thăm cũng phải có đôi chút thủ thuật: Tỏ ra bình thường, xưng tên mình và tên công ty và hỏi thăm như là một người quen biết với phóng viên đó. Nếu phóng viên không có mặt tại đó thì tìm cách xin số di động.
Có một phương pháp khác rất hay là thông qua hỏi thăm một nhà báo đã quen biết trước để liên hệ.
Công cụ hữu hiệu của người làm PR là điện thoại di động, danh sách nhà báo (địa chỉ, email, ngày sinh nếu có, ngày thành lập báo…)

Điều khó nhất là vượt qua trạng thái bỡ ngỡ của lần đầu tiên gặp gỡ, có 4 trường hợp bước đầu tạo mối quan hệ:
+ Nam muốn làm quen nữ: Nữ luôn cảm thấy cần cảnh giác. Do vậy, nguyên tắc là không nên hỏi tên trước, cũng không gọi là em.
+ Nữ muốn làm quen nữ: Hãy khen một cách gián tiếp, tế nhị, hỏi thăm vật dụng của người đối diện mua ở đâu, làm ở đâu…
+ Nam muốn làm quen nam: bắt chuyện bằng hỏi thăm (tình hình sắp xảy ra…), nói về các mối quan tâm của nam giới: thời sự, bóng đá…
+ Nữ muốn làm quen nam: Cách dễ nhất là nhờ vả một việc gì đó.

Các nguyên tắc:
- Nguyên tắc 1: Khi quan hệ với nhà báo, không bao giờ được hỏi thẻ nhà báo.
Lý do: Gây ra tâm lý khó chịu vì bị nghi ngờ. Lý do khác là có những phóng viên phải công tác liên tục tại một tờ báo ít nhất 3 năm mới được cấp thẻ nhà báo, hoặc một số lý do khác mà chưa có Thẻ nhà báo.
- Nguyên tắc 2: Khi xướng danh, không nên gọi là phóng viên mà nên gọi là nhà báo.
Phóng viên chỉ là một chức danh, chỉ một người tác nghiệp cụ thể trong tòa soạn. Còn gọi nhà báo có tính chất trang trọng hơn.
- Nguyên tắc 3: Không chạy lăng xăng để tìm kiếm mối quan hệ với nhà báo.
Hãy chọn một chỗ ngồi tốt để có thể tiện làm quen, tiếp xúc với nhà báo.
- Nguyên tắc 4: Duy trì mối quan hệ với nhà báo
+ Gửi email
+ Gọi điện hỏi thăm, nhắn tin
+ Gặp gỡ, chào hỏi


3. Kỹ năng quan hệ với báo chí:
  • Không có khái niệm thời gian
Khi có thông tin thì nên cũng cấp cho báo nhanh chóng, kipk thời để báo có thể đăng.
Khi có một biến động gì đó thì nên liên hệ ngay với báo để thông cáo lại, xác minh lại thông tin.
  • Sẵn sàng đối thoại và thân thiện:
Thái độ cư xử rất ảnh hưởng đến nội dung thông tin. Nhà báo có thể sử dụng câu chữ để gây nên hiệu ứng rất lớn cho xã hội.
Luôn sẵn sàng đối thoại để cung cấp thông tin.
  • Trách mình trước, trách người sau
Khi bị một báo nào đó viết bài phê bình thì không nên nổi giận, trả đũa báo mà nên tự trách mình trước. Cách xử lý:
- Chủ động tiếp cận, đối thoại thân thiện với đại diện của báo, cung cấp thông tin đúng và có lợi cho tổ chức/ cá nhân cho nhà báo.
- Nên tiếp nhận phản hồi, cảm ơn báo (trừ phi báo sai sự thật 100%)
- Không nên gây hấn với báo
  • Không nói dối nhà báo nhưng chỉ nói sự thạt có giới hạn (sự thật & có lợi)
  • Hiểu công việc của nhà báo:
- Không hỏi thời gian đăng bài
- Không từ chối chụp hình
- TRánh chiêu đãi nhà báo vào giờ trễ
- Gửi thư mời phải đích danh
- Tổ chức họp báo chỉ mời 1 báo 1 người
  • Tế nhị
- Không tặng quà sau khi nhà báo viết bài, nhưng tặng vào dịp lễ…
- Không mua quà quá đắt tiền
- Không bỏ tiền vào phogn bì khi mình mời nhà báo đến hay nhà báo tự đến. Chỉ bỏ phong bì khi cuộc họp đông nhà báo, có tính chất hình thức.
- Các câu không nên hỏi:
+ Hỏi tiền đăng trên báo
+ Hỏi tin có đăng được không?
+ Hỏi về ngày đăng và nói để tìm mua
  • Cung cấp thông tin cho báo chí, cần phải:
- Mới mẻ
- Hấp dẫn: lần đầu tiên, duy nhất, khác biệt. độc đáo, kỷ lục…
- Có lợi cho cộng đồng
- Trả lời các câu hỏi: Ai? Việc gì? Ở đâu? Thời gian? Như thế nào/Tại sao?
 
Thích: 16 people

she is pr

Thành viên năng động
31/7/09
29
209
28
31
TP.HCM
#2
Chị ơi vậy đó là PR còn Marketing thì sao? Chị cho Em rõ hơn về Marketing đi.Thanks chị
 

TQV

Thanh viên kỳ cựu
4/6/09
757
4,822
93
31
Trường Đời
kynangsong.org
#3
Marketing

Tiếp thị hay Tiếp cận thị trường (Marketing) là việc nhận dạng ra được những gì mà con người và xã hội cần. Một sản phẩm nếu được tạo ra mà không ai có nhu cầu dùng và mua thì sẽ không bán ra được, từ đó sẽ không có lãi. Mà nếu vậy, thì sản xuất sẽ trở thành không sinh lợi. Do đó, định nghĩa ngắn nhất mà ta có được đó là nhận dạng được nhu cầu một cách có lợi.
Hiệp hội Marketing Mỹ (American Marketing Association, AMA) cho định nghĩa sau: "Marketing là một nhiệm vụ trong cơ cấu tổ chức và là một tập hợp các tiến trình để nhằm tạo ra, trao đổi, truyền tải các giá trị đến các khách hàng, và nhằm quản lý quan hệ khách hàng bằng những cách khác nhau để mang về lợi ích cho tổ chức và các thành viên trong hội đồng cổ động"
Có thể xem như marketing là quá trình mà những cá nhân hoặc tập thể đạt được những gì họ cần và muốn thông qua việc tạo lập, cống hiến, và trao đổi tự do giá trị của các sản phẩm và dịch vụ với nhau(MM - Kotler).
Theo định nghĩa dành cho các nhà quản lý, marketing được ví như "nghệ thuật bán hàng", nhưng khá ngạc nhiên rằng, yếu tố quan trọng nhất của marketing thật ra không nằm ở chỗ bán sản phẩm. Peter Drucker, nhà lý thuyết quản lý hàng đầu cho rằng: "Nhưng mục đích của marketing là làm sao để biết và hiểu rõ khách hàng thật tốt sao cho sản phẩm hoặc dịch vụ thích hợp nhất với người đó, và tự nó sẽ bán được nó. Lý tưởng nhất, Marketing nên là kết quả từ sự sẵn sàng mua sắm. Từ đó, việc hình thành nên sản phẩm hoặc dịch vụ mới trở nên cần thiết để tạo ra chúng"

Trao đổi và Giao dịch

Người ta có thể có được một sản phẩm từ bốn cách khác nhau: Tự bản thân họ có thể sản xuất ra sản phẩm hay dịch vụ, như là đi săn, đánh bắt cá, hoặc thu lượm hoa quả. Hoặc dùng lực để có được sản phẩm, như là cắp hoặc cướp. Hoặc xin, như những gì xảy ra đối với những người không nhà xin tiền, hoặc thức ăn. Hoặc đưa ra một sản phẩm, một dịch vụ, hoặc tiền để trao đổi cho thứ mà họ mong muốn.
Trao đổi là khái niệm quan trọng nhất/cốt lõi của Marketing, là tiến trình đạt được 1 sản phẩm từ một người nào đó thông qua việc đưa ra một vật gì đó nhằm trao đổi. Để khả năng trao đổi tồn tại, 5 điều kiện cơ bản phải được thỏa mãn:

  1. Có ít nhất 2 bên thành phần tham gia.
  2. Mỗi bên phải có một thứ gì đó có giá trị đối với bên kia.
  3. Mỗi bên đều có khả năng trao đổi và truyền tải.
  4. Mỗi bên được tự do trong việc chấp thuận hay từ chối sự trao đổi.
  5. Mỗi bên tin tưởng rằng có sự hợp lý và mong muốn khi thương lượng với bên kia
Khi hai bên đồng ý thỏa thuận trao đổi, và nếu như họ có thể thương thuyết với nhau - cố đạt được những điều kiện thích hợp thỏa mãn đôi bên. Khi đôi bên đạt được ý nguyện, bước kế đến sẽ là thực hiện giao dịch.
Một giao dịch là sự trao đổi giá trị giữa hai nhiều phía: bên A đưa X cho bên B và nhận về Y. Ông Smith bán cho ông Jones một chiếc tivi và ông Jones trả $400 cho ông Smith. Hình thức này được xem như là cổ điển; nhưng trong giao dịch tiền bạc không nhất thiết phải là giá trị trao đổi. Một giao dịch vẫn có thể bao gồm trao đổi hàng hóa hay dịch vụ cho những hàng hóa hay dịch vụ khác, ví dụ như khi luật sư Jones thảo hợp đồng dùm cho ông Smith, và ông Smith sẽ đưa ra một cuộc kiểm tra sức khỏe cho ông Jones.
Một giao dịch bao gồm một số hướng: có ít nhất 2 vật có giá trị, đồng ý dựa trên điều khoản, thời gian ký kết, và một nơi để ký kết. Một hệ thống luật pháp hỗ trợ và gia cố thêm cho sự bằng lòng của hai bên.
Một giao dịch khác với sự chuyển khoản. Trong một chuyển khoản, bên A đưa X cho bên B nhưng không nhận được bất kỳ vật cụ thể nào. Quà tặng, cống phẩm, từ thiện là chuyển khoản. Hành vi chuyển khoản có thể được xem như là một khái niệm trong trao đổi. Thông thường, người chuyển khoản trông mong sẽ nhận được một thứ gì đó cho quà tặng của họ, tỉ dụ như lòng biết hơn, hay thay đổi hành vi của người nhận. Những tổ chức Quỹ cứu trợ cung cấp ích lợi đến cho những người cứu trợ như thư cảm ơn, thông báo cảm ơn đến báo chí, thiệp mời dự một chương trình.
Nhà tiếp thị làm rộng hơn khái niệm của marketing để học về hành vi chuyển khoản cũng như hành vi giao dịch. Để làm cho chuyển khoản đạt thành công trọn vẹn, các nhà tiếp thị cần tiến hành điều tra từng mong muốn của đối tượng giao dịch.

Những điều cần được giới thiệu với thị trường


  • Kinh nghiệm: Một công ty có thể tạo dựng và tiếp thị những kinh nghiệm vốn có của họ. Thế giới Vương quốc màu nhiệm Walt Disney giới thiệu đến kinh nghiệm marketing: khách hàng được viếng thăm một vương quốc thần tiên, một con tàu cướp biển, hay một ngôi nhà ma.
  • Người: Công nghệ lăng xê người là một ngành kinh doanh chính.
  • Nơi chốn: Thành phố, tiểu bang, vùng hay một quốc gia cạnh tranh sôi nổi để khuyến dụ du khách, đầu tư, nhà máy chính, và những dân cư mới.
  • Tổ chức: Các tổ chức làm những việc có tính chất củng cố để xây dựng một hình ảnh vững mạnh, ưu thế, và độc đáo đối với đối tượng chiến lược. Công ty chi trả tiền bạc cho các quảng cáo xây dựng hình ảnh công ty. Philips, một hãng điện tử của Hà Lan, đưa lên quảng cáo với dòng chữ chính "Let's make things better" (hãy cùng làm cuộc sống tốt đẹp hơn). Ở Anh, chương trình "Every little bit helps" của Tesco đã đưa nó lên hàng đầu của chuỗi siêu thị nơi ấy. Trường đại học, bảo tàng, các tổ chức triển lãm nghệ thuật và các tổ chức không quyền lợi đều dùng marketing để đưa hình ảnh lên cao và cạnh tranh cho khán giả và quỹ.
  • Thông tin: Thông tin có thể được sản xuất và tiếp thị như một món hàng: từ điển, báo chí...
  • Ý tưởng: Mỗi thị trường đều có những ý tưởng được đưa ra. Charles Revson của hãng Revlon cho rằng: "Trong nhà máy, chúng tôi làm ra mỹ phẩm; trong cửa hiệu, chúng tôi bán sự hy vọng". Sản phẩm và dịch vụ là nền tảng để truyền tải những ý tưởng và quyền lợi. Các nhà tiếp thị xã hội bận rộn cho việc quảng bá những ý tưởng như: "Bạn đừng để bạn lái xe say xỉn" (Friends don't let friends drive drunk) hay như "Một trí óc là một sản phẩm tồi tệ khi bị bỏ phí".

Marketing hiện đại

Marketing hiện đại chú trọng vào việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng bằng cách tìm hiểu tập trung vào thị trường và tập trung vào khách hàng. Công ty trước tiên phải quan tâm đến các nhu cầu của các khách hàng tiềm năng sau đó mới đi vào sản xuất ra sản phẩm hàng hóa hoặc tạo ra dịch vụ. Lý thuyết và thực hành của marketing được thiết lập dựa trên cở sở khách hàng dùng một sản phẩm hay một dịch vụ nào đó chỉ khi họ có một nhu cầu hoặc bởi vì sản phẩm ấy/dịch vụ ấy mang lại một ích lợi thiết thực cho họ.
Hai mặt chính của marketing là tìm khách hàng mới, giữ liên lạc mật thiết với các khách hàng hiện có.

Phương pháp

Các phương pháp marketing được hấp thụ bởi nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau. Đặc biệt là từ môn tâm lý học, xã hội học, kinh tế học. Nhân loại học cũng có liên quan nhỏ và là một môn đang phát triển có ảnh hưởng đến marketing. Nghiên cứu thị trường tạo cơ sở vững chắc cho các hoạt động này. Thông qua ngành quảng cáo (là một phân ban trong MKT), nó cũng có liên quan rất nhiều đến tố chất sáng tạo nghệ thuật.
Một kế hoạch marketing để đạt được thành công đòi hỏi sự kết hợp chiến lược và hiệu quả của 4 chữ P (Product, Place, Price, Promotion) - Sản phẩm, Phân phối, Định giá và Khuyến mãi. Quản lý marketing là một ngành ứng dụng của tiến trình này.
Do đó marketing hiện đại là một hệ thống kết hợp của nhiều hoạt động kinh tế, nhưng nói một cách cơ bản marketing gồm có bốn việc: bán đúng sản phẩm đến đúng thị trường đang cần nó, định giá đúng theo nhu cầu, thoả mãn đúng nhu cầu của khách hàng và tạo ra lợi nhuận cho nhà sản xuất.

Marketing (4P)

Marketing được hiểu như là các khuyến mãi trong sản phẩm, đặc biệt hơn là quảng cáo và gây dựng thương hiệu. Tuy nhiên, marketing có nghĩa rộng hơn đó là lấy khách hàng làm trọng tâm. Các sản phẩm hàng hóa sẽ được phát triển để đáp ứng với mong mỏi của các nhóm khách hàng khác nhau, và ngay cả trong một vài trường hợp, chỉ một nhóm khách hàng chuyên biệt. E. Jerome McCarthy phân loại marketing vào 4 nhóm hoạt động cơ bản đã trở nên vô cùng phổ biến, bao gồm:

  • Product (Sản phẩm hàng hóa): Sản phẩm gồm những thứ hữu hình có thể sờ mó được (tangible) như là đèn, quạt, cửa... hoặc vô hình không sờ được (intangible) như là dịch vụ. Diện mạo của sản phẩm marketing bao gồm các chi tiết đặc điểm của một loại hình sản phẩm hoặc dịch vụ chuyên biệt và làm cách nào nó có liên quan đến nhu cầu và sự cần thiết đến người dùng cuối cùng. Phạm vi của một sản phẩm thường bao gồm cung cấp các thành phần cộng thêm như bảo hành, và các dịch vụ khác.
  • Pricing (Định giá): là tiến trình để đi đến việc định giá cho một sản phẩm, gồm cả việc bán giảm giá, hạ giá. Không nhất thiết phải là tiền mặt không thôi, nó có thể là bất kỳ thứ gì có thể đem ra trao đổi cho một sản phẩm hay dịch vụ. Ví dụ: thời gian hay sự quan tâm.
  • Placement hay distribution (Vị trí - Phân phối): là việc làm sao cho sản phẩm đến được với khách hàng. Ví dụ như vị trí điểm bán có thuận lợi cho khách mua hàng hay không, vị trí sản phẩm có thuận tiện lọt vào tầm mắt của khách hay không... Đôi khi nó còn có nghĩa là kênh phân phối mà sản phẩm hay hàng hóa được bán ra. Ví dụ bán trên mạng hay bán ở các cửa hàng sỉ, cửa hàng lẻ... bán ở tỉnh hay thành phố bán cho nhóm đối tượng nào (thanh niên, gia đình, hay thương nhân).
  • Promotion (Khuyến mãi): Bao gồm cả quảng cáo, bán giá khuyến khích, làm cho mọi người chú ý đến, bán riêng cho khách và liên hệ đến nhiều phương pháp trong việc đánh bóng sản phẩm, thương hiệu hoặc công ty.
Một nhà tiếp thị có thể dùng những tính chất ấy để gây dựng nên một kế hoạch marketing hoàn chỉnh. Mẫu 4P này có ứng dụng hiệu quả nhất khi marketing cho các giá trị tiêu thụ hàng hóa thấp. Đối với sản phẩm công nghiệp, dịch vụ, sản phẩm tiêu dùng giá trị cao cần có thêm các điều chỉnh cho mô hình này. Bởi vì mỗi môi trường marketing khác nhau, có các tố chất tự nhiên về giao dịch và sản phẩm khác nhau. Marketing dịch vụ thì cần phải có tạo ra một dịch vụ chuyên biệt. Marketing cho công nghiệp, hay B2B, thì cần phải có bản hợp đồng dài hạn mà cần rất nhiều yếu tố kỹ thuật và chuyên biệt cho nhóm sản phẩm này. Marketing mối quan hệ (relationship marketing) thì phải nhìn về hướng thiết lập mối liên kết lâu dài hơn là các bản hợp đồng cá nhân.

Theo Wikipedia
 
Thích: 6 people

Bình luận bằng Facebook