Ngân hàng trung ương

moon

[♣]Thành Viên CLB
24/9/08
11
128
28
Khoa Kinh Tế ĐHQG
#1
Đây là bài tập nhóm của tui đó! Mọi người tham khào nha!

NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG​

I. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
Ngân hàng trung ương (có khi gọi là ngân hàng dự trữ, hoặc cơ quan hữu trách về tiền tệ) là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia/nhóm quốc gia/vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ. Mục đích hoạt động của ngân hàng trung ương là ổn định giá trị của tiền tệ, ổn định cung tiền, kiểm soát lãi suất, cứu các ngân hàng thương mại có nguy cơ đổ vỡ. Hầu hết các ngân hàng trung ương thuộc sở hữu của Nhà nước, nhưng vẫn có một mức độ độc lập nhất định đối với Chính phủ.
1.1.Quá trình hình thành ngân hàng
Ngân hàng được hình thành và phát triển trong một quá trình lâu dài trãi qua nhiều hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử loại người. Mầm móng của ngân hàng xuất hiện ở thời kỳ trung cổ. Trong thời kỳ này, mỗi quốc gia, thậm chí mỗi địa phương có một loại tiền riêng và chỉ sử dụng trong phạm vi địa phương hay quốc gia mình. Tình trạng này đã gây trở ngại và khó khăn cho việc trao đổi, buôn bán hàng hóa. Để thoát khỏi vấn đề này, một tầng lớp trung gian đã xuất hiện-tầng lopws, thương nhân chuyên làm nghề đổi chác tiền tệ. Những người này có trong tay các loại tiền của các địa phương trong một quốc gia, thậm chí của một số quốc gia. Do số lượng khách hàng đổi tiền ngày càng nhiều nên trong tay những người chuyên làm nghề đổi chác tiền tệ đã tập trung được một khối lượng vốn khá lớn, nhờ đó họ mở rộng hoạt động của mình: làm thêm nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay.
Như vậy là trong sự phân công tự phát của xã hội, bên cạnh tầng lớp thương nhân thông thường đã xuất hiện một tầng lớp thương nhân đặc biệt chuyên lấy tiền tệ làm đối tượng hoạt động, đó là tiền thân của ngành ngân hàng.
Sản xuất và trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển đã dẫn đến những quan hệ giao dịch về tiền tệ ngày càng phát triển và đa dạng, do đó bên cạnh nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay lấy lãi, những thương nhân đổi tiền đã làm luôn cả việc thanh toán thay cho khách hàng, giúp họ tránh khỏi những rủi ro do mang tiền từ địa phương này sang địa phương khác. Như vậy, những thương nhân đã dần thóat ly khỏi vị trí ban đầu của họ (chủ yếu làm nghề đổi tiền) và bước sang lĩnh vực làm trung gian hoạt động về tiền tệ. Họ đã trở thành những người thực sự làm nghề ngân hàng.
1.2.Các giai đoạn phát triển của ngân hang trung ương
* Giai đoạn 1: giai đoạn ra đời ngân hàng phát hành độc quyền
-Giai đoạn từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18: trong giai đoạn này hoạt động của ngân hàng mang những nét đặc trưng cơ bản sau:
• Các ngân hàng hoạt động độc lập, chưa tạo ra một hệ thống, chưa có sự ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau.
• Chức năng hoạt động của các ngân hàng giống như nhau bao gồm: việc nhận kỳ thác, chíết khấu cho vay, phát hành giấy bạc ngân hàng và thực hiện các dịch vụ tiền tệ khác như: đổi tiền, chuyển ngân…

-Giai đoạn từ thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20: bước sang thế kỷ 18 hoạt động lưu thông hàng hóa được mở rộng và phát triển cả về quy mô lẫn phạm vi. Trong bối cảnh ấy các ngân hàng phát hành nhiều loại giấy bạc ngân hàng khác nhau làm cản trở quá trình phát triển của nền kinh tế. Chính vì thế đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước và hoạt động của Ngân hàng. Các nhà nước đã ban hành các đạo luật để hạn chế số lượng ngân hàng được phép phát hành giấy bạc. Lúc này hệ thống ngân hàng được chia làm hai nhóm:
+ Những ngân hàng được phép phát hành tiền được gọi là ngân hàng phát hành. Đây là những ngân hàng lớn, có uy tín, tài chính vững mạnh. Ngân hàng phát hành giảm dần và đi đến không giao dịch với công chúng mà chỉ giao dịch với các ngân hàng trung gian.
+ Những ngân hàng không được phép phát hành tiền được gọi chung là ngân hàng trung gian. Ngân hàng trung gian giao dịch với công chúng, thực hiện kinh doanh tiền tệ thuần túy.
* Giai đoạn 2: giai đoạn ngân hàng phát hành độc quyền phát triển thành ngân thàng trung ương

-Giai đoạn từ giữa thế kỷ 20 đến nay: Sang đầu thế kỷ 20, hầu hết các nước đều thực hiện cơ chế một ngân hàng độc quyền phát hành. Song ngân hàng phát hành vẫn còn thuộc sở hữu tư nhân. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 đã bắt buộc nhà nước tăng cường hơn nữa việc can thiệp của mình vào lĩnh vực kinh tế. Xuất phát từ yêu cầu đó nhà nước nhanh chóng nắm lấy ngân hàng phát hành để điều tiết các hoạt động kinh tế vĩ mô bằng cách quốc hữu hóa ngân hàng phát hành hoặc thiết lập ngân hàng phát hành thuộc sở hữu nhà nước. . Đây chính là quá trình hình thành ngân hàng phát hành và xác lập cho ngân hàng này chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng, được gọi là Ngân hàng trung ương. Việc quốc hữu hóa ngân hàng phát hành được thực hiện bằng cách Nhà nước bỏ tiền ra mua lại toàn bộ cổ phiếu của ngân hàng phát hành. Toàn bộ hội viên của hội đồng quản trị và bộ máy lãnh đạo điều hành, thanh tra, kiểm soát đều do nhà nước bổ nhiệm trên cơ sở cơ cấu cũ trước khi quốc hữu hóa.
Đến giữa thế kỷ 20 thì bắt đầu xuất hiện tiến trình cải biến ngân hàng phát hành thành ngân hàng trung ương, kể từ ấy hệ thống ngân hàng được cấu thành bởi hai bộ phận chính: ngân hàng trung ương và ngân hàng trung gian.

Như vậy sự ra đời của ngân hàng trung ương là hệ quả của quá trình chuyển hóa ngân hàng thương mại thành ngân hàng phát hành, và ngân hàng phát hành thành ngân hàng trung ương gắn liền với sự can thiệp của Nhà nước trên lĩnh vực này. Sự ra đời của ngân hàng trung ương xuất phát từ đòi hỏi của sản xuất và lưu thông hàng hóa, cùng với yêu cầu của Nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ. Nó ra đời không vì mục đích tìm kiếm doanh lợi, mà xuất phát từ yêu cầu của quản lý và điều tiết lưu thông tiền tệ, thực hiện nhiệm vụ ổn định tiền tệ, đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định, an toàn và có hiệu quả để phát triển kinh tế. Dù tên gọi không giống nhau như Quỹ dự trữ liên bang, Ngân hàng nhà nước, Viện phát hành,… chúng đều có chung một tính chất: ngân hàng trung ương.
Hiện nay, ở một số nước ngân hàng trung ương không hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của nhà nước nhưng hoạt động vẫn mang tính chất như một ngân hàng của nhà nước và cơ quan quản lý cao nhất của nó là do nhà nước bổ nhiệm và miễn nhiệm. Chẳng hạn: Ngân hàng trung ương Nhật Bản là ngân hàng cổ phần ( nhà nước chiếm 55%) nhưng cơ quan quản trị ngân hàng có 7 thành viên do chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm. Hệ thống dự trữ liên bang Mỹ là ngân hàng cổ phần với hội đồng thống đốc có 7 thành viên do Tổng thống đề cử và Quốc hội bổ nhiệm,…
1.3 Bản chất của ngân hàng trung ương
Về mặt bản chất, ngân hàng trung ương là ngân hàng phát hành công quản, có thể biệt lập hoặc phụ thuộc chính phủ, vừa thực hiện chức năng độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng vào lưu thông, vừa thực hiện quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ - tín dụng - ngân hàng. Trong hoạt động nó không giao dịch với công chúng mà chỉ giao dịch với kho bạc và các ngân hàng trung gian.
Mục đích hoạt động của ngân hàng trung ương là cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế, điều hoà lưu thông tiền tệ và quản lý hệ thông ngân hàng nhằm đảm bảo cho lưu thông tiền tệ được ổn định, kiểm soát lạm phát và nó sử dụng chính sách tiền tệ để thực hiện mục tiêu đó. Có thể nói ngân hàng trung ương là một định chế hỗn hợp của hai tính chất: Doanh nghiệp và Quản lý hành chính.
II MÔ HÌNH TỔ CHỨC
Sự ra đời của ngân hàng trung ương là do yêu cầu khách quan của việc quản lý phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiền tệ … Ngân hàng trung ương là cơ quan độc quyền phát hành tiền và thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng với nhiệm vụ cơ bản là ổn định giá trị tiền tệ. Để thực hiện chức năng nhiệm vụ đó, ngân hàng trung ương phải chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ. Do đó ngân hàng trung ương có vị trí đặc biệt trong bộ máy quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô. Cho đến nay trên thế giới có 2 mô hình tổ chức ngân hàng trung ương:
2.1. Ngân hàng trung ương độc lập với Chính phủ (Ngân hàng trung ương trực thuộc Quốc hội)
Theo mô hình này, Chính phủ không có quyền can thiệp vào hoạt động của Ngân hàng trung ương, đặc biệt là trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ.

Mô hình này được xây dựng dựa trên quan điểm cho rằng: Chính phủ là người thực thi chính sách tài chính quốc gia, quản lý, điều hành ngân sách nhà nước. Để ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ sẽ bị Chính phủ lạm dụng công cụ phát hành tiền để trang trải sự thiếu hụt của ngân sách nhà nước, từ đó dễ gây ra lạm phát. Mặt khác ngân hàng trung ương mất hẳn tính độc lập và chủ động trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ.
Tiêu biểu cho mô hình này là Quỹ dự trữ liên bang Mỹ và Ngân hàng dự trữ liên bang Đức.
Ngân hàng dự trữ liên bang Đức không trực thuộc Chính phủ khi thực hiện các nghiệp vụ của mình, đồng thời có trách nhiệm ủng hộ chính sách kinh tế chung của Chính phủ.
Quỹ dự trữ liên bang Mỹ: cơ quan quản lý cao nhất là hội đồng thống đốc có 7 thành viên. Thành viên của Hội đồng thống đốc không được tái nhiệm. Chính phủ khó có thể chi phối hoạt động của ngân hàng trung ương.
2.2. Ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ
Theo mô hình này, Chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đối với ngân hàng trung ương thông qua việc bổ nhiệm các thành viên của bộ máy quản trị và điều hành ngân hàng trung ương, thậm chí Chính phủ còn can thiệp trực tiếp vào việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ.

Mô hình này được xây dựng trên quan điểm cho rằng: Chính phủ là người thực hiện chức năng quản lý nhà nước, thực hiện vai trò quản lý kinh tế vĩ mô, do đó chính phủ phải nắm và sử dụng các công cụ kinh tế vĩ mô. Việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ là một trong những công cụ chủ yếu trong tổng thể các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô. Chính phủ phải nắm lấy ngân hàng trung ương để sử dụng ngân hàng này trong việc thực hiện các chức năng của Chính phủ.
Như vậy, ngân hàng trung ương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng. Nhưng nó khác với tính chất quản lý của các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước. Ngân hàng trung ương thực hiện chức năng quản lý không chỉ đơn thuần bằng các luật lệ, các biện pháp hành chính mà còn thông qua các nghiệp vụ mang tính kinh doanh sinh lời. Ngân hàng trung ương có các khoản thu nhập từ các tài sản có của mình như chứng khoán chính phủ, kinh doanh trên thị trường ngoại hối, cho vay chiết khấu,…Hai mặt quản lý và kinh doanh gắn chặt với nhau trong tất cả các hoạt động của ngân hàng trung ương. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh chỉ là phương tiện để quản lý, không phải là mục đích của ngân hàng trung ương. Hầu hết các khỏan thu nhập của Ngân hàng trung ương, sau khi trừ các chi phí hoạt động, đều phải nộp vào ngân sách nhà nước.
2.3. Hệ thống tổ chức
Hệ thống tổ chức của ngân hàng trung ương được bố trí theo tuyến dọc: bên trên là ngân hàng trung ương, tỏa dọc xuống là các chi nhánh trực thuộc đặt trên các địa bàn các tỉnh, thành phố. Hệ thống tổ chức này đảm bảo cho ngân hàng trung ương vận hành các hoạt động của mình một cách thông suốt, nhạy bén theo nguyên tắc tập trung thống nhất.
Trong bộ máy quản lý, điều hành vĩ mô của Nhà nước, ngân hàng trung ương có vị trí đặc biệt, cùng với nhiệm vụ xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền, cho nên việc quản trị và điều hành hoạt động của ngân hàng trung ương được thực hiện theo một cơ chế đặc biệt so với các Bộ chức năng của nhà nước.
- Về cơ chế quản trị
Hiện nay, hầu hết các nước đều thực hiện theo cơ chế lãnh đạo dưới hình thức một hội đồng. Hội đồng này được nhà nước bổ nhiệm gồm những người có chuyên môn cao, có trình độ quản lý,… Chức năng chủ yếu của Hội đồng là quyết định những chủ trương, chính sách về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng, chỉ đạo, giám sát các hoạt động của ngân hàng trung ương, tư vấn cho Chính phủ các vấn đề về kinh tế-tiền tệ. Đứng đầu hội đồng là chủ tịch hội đồng – thường là Thống đốc ngân hàng trung ương.
Chẳng hạn:
Ngân hàng dự trữ liên bang Đức: cơ quan quản trị là hội đồng ngân hàng trung ương. Các thành viên hội đồng gồm có: Thống đốc ngân hàng liên bang, Thống đốc các ngân hàng trung ương bang. Thống đốc ngân hàng liên bang đồng thời là chủ tịch hội đồng.
Quỹ dự trữ liên bang Mỹ: cơ quan quản trị là hội đồng thống đốc gồm 7 thành viên được Tổng thống đề cử và Thượng viện phê chuẩn để phục vụ trong nhiệm kỳ 4 năm. Các thành viên thường là các nhà kinh tế chuyên nghiệp hoặc những nhà ngân hàng chuyên nghiệp. Đứng đầu hội đồng này là chủ tịch hội đồng thống đốc do Thượng viện bổ nhiệm.
- Về cơ chế điều hành
Thống đốc ngân hàng trung ương là người trực tiếp điều hành, giúp việc cho thống đốc có một số phó thống đốc. Để thực hiện chức trách của mình, thống đốc sử dụng một bộ máy tổ chức gồm các vụ, cục, chi nhánh trực thuộc. Thống đốc là người chịu trách nhiệm trước Quốc hội hoặc Chính phủ và trước hội đồng quản trị về thực hiện chức năng nhiệm vụ của ngân hàng trung ương.
III CHỨC NĂNG CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
3.1. Ngân hàng trung ương là ngân hàng phát hành và điều tiết lưu thông tiền tệ
Khi ngân hàng trung ương ra đời và hoạt động thì toàn bộ việc phát hành giấy bạc ngân hàng được tập trung vào ngân hàng trung ương theo chế độ nhà nước độc quyền phát hành tiền. Ngân hàng trung ương trở thành trung tâm phát hành tiền của đất nước.
Giấy bạc ngân hàng do Ngân hàng trung ương phát hành là phương tiện thanh toán hợp pháp, làm chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán. Do đó việc phát hành tiền của ngân hàng trung ương có tác động trực tiếp đến tình hình lưu thông tiền tệ của đất nước. Để cho giá trị đồng tiền được ổn định, đòi hỏi việc phát hành tiền phải tuân theo những nguyên tắc nghiêm ngặt. Đó là:
- Phát hành tiền dựa vào dự trữ vàng
Giấy bạc ngân hàng phát hành vào lưu thông phải có vàng nằm trong kho của ngân hàng làm đảm bảo. Mức đảm bảo ở mỗi nước có sự co giãn khác nhau. Nhìn chung có 3 hình thức duy trì đảm bảo sau đây:
+ Nhà nước quy định một hạn mức phát hành, khối lượng phát hành phải nằm trong hạn mức pháp định.
+ Nhà nước quy định tối đa lượng giấy bạc trong lưu thông và không quy định mức dự trữ vàng làm đảm bảo cho lượng giấy bạc đó.
+ Nhà nước quy định mức dự trữ vàng tối thiểu cho khối lượng giấy bạc phát hành.
Ví dụ: ở Mỹ quy định tỷ lệ dự trữ kim loại đảm bảo là 40% tổng số tiền phát hành (đạo luật 1913).
Ở Anh quy định số tiền giấy phát hành quá 14 triệu Bảng phải được đảm bảo bằng 100% vàng (đạo luật 1844).
Ở Pháp, Đức đã có những đạo luật ngân hàng quy định trữ kim đảm bảo cho tiền giấy phát hành.
-Đảm bảo bằng tín dụng hàng hóa: cơ chế đảm bảo bằng trữ kim đã bị đổ vỡ cùng với chế độ bản vị bản vị vàng hoặc bản vị hối đoái vàng. Hiện nay ở các nước đều áp dụng cơ chế đảm bảo bằng tín dụng hàng hóa cho lượng tiền phát hành. Theo cơ chế này, tiền tệ được phát hành và lưu thông thông qua hệ thống tín dụng ngắn hạn bảo đảm tiền đi vào lưu thông gắn liền với sự vận động của sản phẩm hàng hóa theo nguyên tắc có thời hạn và được hoàn trả.
Ngoài ra ngân hàng trung ương có thể phát hành tiền tệ để cho ngân sách vay, để tham gia bình ổn thị trường hối đoái. Do việc phát hành tiền có ảnh hưởng rộng lớn đến lưu thông tiền tệ của đất nước nên đòi hỏi công việc đó phải được tiến hành trong những nguyên tắc nhất định. Mặt khác, việc phát hành tiền đi đôi với việc điều tiết lưu thông tiền tệ nhằm bảo đảm cung ứng một khối lượng tiền phù hợp vói nhu cầu của kinh tế. Nói cách khác, ngân hàng trung ương cần phải kiểm soát toàn bộ khối lượng tiền cung ứng để vừa đảm bảo đủ phương tiện lưu thông vừa không gây lạm phát để giữ vững và ổn định sức mua của đồng tiền.
Việc điều tiết lưu thông tiền tệ để kiểm soát lượng tiền cung ứng bằng hai cách:
-Trực tiếp xác định lượng tiền tăng thêm cần được thực hiện như: tăng thêm cho tín dụng, tăng thêm cho tăng trưởng kinh tế, tạm ứng cho ngân sách, tăng dự trữ ngoại tệ, vàng.
-Kiểm soát quá trình “tạo tiền” của các ngân hàng thương mại.
Thực hiện chức năng này, ngân hàng trung ương trở thành trung tâm tiền tệ của nền kinh tế.
*Những truờng hợp phát hành tiền của ngân hàng trung ương:
• Phát hành tiền qua ngõ chính phủ:
Đối với cộng đồng, chính phủ là một định chế quản lý hành chính và bảo vệ sự vẹn toàn của cộng đồng. Trong nền kinh tế chính phủ là một chủ thể kinh tế, như mọi chủ thể kinh tế khác là các hộ gia đình, các xí nghiệp, công ty, vừa có số thu, vừa có số chi. Tình trạng thu chi của chính phủ được thể hiện cụ thể qua công cụ ngân sách quốc gia. Ngân sách thường rơi vào một trong 3 trường hợp sau:
+Nếu tổng thu lớn hơn tổng chi được gọi là ngân sách thặng dư.
+Nếu tổng thu bằng tổng chi thì gọi là ngân sách thăng bằng.
+Nếu tổng thu nhỏ hơn tổng chi thì gọi là ngân sách thâm hụt.
Khi ngân sách quốc gia rơi vào hai trường hợp đầu thì họat động của ngân sách không ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng trung ương. Nhưng khi ngân sách thâm hụt, hoạt động ngân sách sẽ tác động đến chính sách tiền tệ. Bởi lẽ chính phủ với tư cách là chủ thể kinh tế, như mọi chủ thể kinh tế khác thì thiếu tiền chi tiêu sẽ phải đi vay tiền để bù đắp thiếu hụt. Hoạt động vay của ngân sách sẽ rơi vào một hoặc kết hợp hay đồng thời 3 phương thức sau:
+Vay của công chúng thông qua việc phát hành tín phiếu, trái phiếu kho bạc, công trái.
+Vay của nước ngoài.
+Vay của ngân hàng trung ương.
Phương thức thứ nhất không ảnh hưởng đến mức cung ứng tiền của ngân hàng trung ương. Bởi vì, khi chính phủ phát hành các công cụ nợ, công chúng bỏ tiền ra mua các công cụ đó tức là đã cho chính phủ vay. Chính phủ dùng lại số tiền đó để phục vụ nhu cầu chi tiêu của mình và thế là tiền lại ra thị trường. Khi đến kỳ hạn, chính phủ thu thuế, có tiền để trả lại cho công chúng, chính phủ lại thu hồi các công cụ nợ về. Như vậy ngân hàng trung ương không phải phát hành thêm tiền.
Phương thức thứ hai và thứ ba buộc ngân hàng trung ương phải phát hành thêm tiền.
Bằng phương pháp thứ hai, khi chính phủ vay của nước ngoài, lượng tiền vay được thông thường dưới các hình thức hàng hóa, vàng hoặc ngoại tệ. Những loại tài sản này khi đem về nước thường cũng phải ký quỹ ở ngân hàng trung ương để chuyển đổi thành tiền mặt. Như thế, có nghĩa là ngân hàng trung ương phải phát hành thêm tiền.
Về phương thức thứ ba, khi chính phủ vay của ngân hàng trung ương. Lúc này lượng tiền mặt trong lưu thông sẽ tăng lên thông qua chi tiêu của chính phủ. Chính phủ vay trực tiếp của ngân hàng trung ương có 3 dạng:
+Vay ứng trước tạm thời: trường hợp này thường thời hạn 3 tháng hoặc 6 tháng, xảy ra do số thu ngân sách vào chậm không đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu trong tài khóa.
+Vay ứng trước có kỳ hạn, trường hợp này xảy ra khi sự thâm hụt đã được chính phủ dự kiến trước vì những mục tiêu nhất định.
+Vay ứng trước vĩnh viễn, xảy ra khi sự thâm hụt không lường trước được diễn ra trong tài khóa ngân sách, nếu số ứng trước bất thường trở thành món nợ không hoàn trả được.
• Phát hành tiền qua ngõ ngân hàng trung gian:
Hoạt động của ngân hàng trung gian, đặc biệt là đối với ngân hàng ký thác, chủ yếu nhận tiền gửi của công chúng và cho vay. Phần lớn số tiền cho vay của ngân hàng này lấy từ nguồn tiền gửi của dân chúng. Bản thân ngân hàng phải cho vay tới mức mà ngân hàng trung ương cho phép để tối đa hóa doanh lợi, ngoài việc trang trải các chi phí, trả tiền lãi…Tuy nhiên, không phải lúc nào hoạt động của ngân hàng trung gian đều diễn ra một cách trôi chảy, thuận lợi. Có những lúc, người gửi tiền đến đòi rút tền ra quá nhiều làm cho ngân hàng trung gian lâm vào tình trạng kẹt vốn. Trong tình huống này ngân hàng trung ương có khả năng vô biên, lúc nào ở hầm dự trữ của ngân hàng trung ương cũng có một khối tiền in sẵn dự trữ. Do vậy việc cứu sống một hai ngân hàng trung gian thoát khỏi tình hình mất khả năng chi trả là điều dễ dàng. Nếu không cứu chữa kịp thời, ngọn lửa này sẽ lan rộng ra cả hệ thống ngân hàng.
Như vậy nhờ có ngân hàng trung ương, khi bị kẹt vốn ngân hàng trung gian có thể đến vay ở ngân hàng trung ương, ở đây được xem là chỗ dựa vững chắc của ngân hàng trung gian.
Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian chủ yếu dưới 2 hình thức:
+Chiết khấu hoặc tái chiết khấu?
+Thế chấp hay ứng trước.?
Trong cả hai trường hợp trên, ngân hàng trung ương đều thực hiện việc phát hành tiền tệ. Kết quả là làm cho số lượng tiền tệ trong lưu thông gia tăng. Theo các nhà kinh tế học xem việc làm này là một nghiệp vụ thanh khiết, vì nó có khả năng tự thanh toán và theo đúng nguyên tắc tín dụng.
• Phát hành tiền qua ngõ thị trường mở:
Lúc đầu việc phát hành tiền qua ngõ tái chiết khấu có một tầm quan trọng đặc biệt. Song lần theo thời gian, người ta thấy rõ dần mặt hạn chế của nó, đó là ngân hàng trung ương muốn phát hành thêm tiền thì phải đợi chờ ngân hàng trung gian có nhu cầu vay lại ở mình, bằng cách đem thương phiếu đến xin tái chiết khấu. Mặt khác, về sau này ngân hàng trung gian một là không muốn đến vay ở ngân hàng trung ương do những thủ tục của nó, hai là do ngân hàng trung gian không cảm thấy có nhu cầu đi vay. Với thị trường mở, ngân hàng trung gian có thể tìm cho mình nguồn tài trợ cần thiết vì những thủ tục nhanh chóng. Chính vì thế, hoạt động của thị trường mở ngày một quan trọng hơn, thu hẹp phạm vi hoạt động tái chiết khấu. Từ đấy cơ hội phát hành tiền ở thị trường mở gia tăng nhanh chóng.
Thông qua việc mua bán các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường mở, ngân hàng trung ương điều chỉnh lưu lượng tiền mặt trong lưu thông.
Với nghiệp vụ bán, ngân hàng trung ương thu hẹp lượng cung tiền mặt trong lưu thông, lãi suất lại tăng lên.
Bằng nghiệp vụ mua, tức là bơm tiền vào lưu thông. Lúc này lượng tiền lưu hành trên thị trường xã hội tăng lên tạo ra các động lực gây giảm lãi suất.
• Phát hành tiền qua ngõ thị trường vàng và ngoại tệ:
Mỗi quốc gia trên thế giới đều có khả năng tạo lập cho mình một dự trữ vàng và ngoại tệ nhất định. Dự trữ chính thức nằm trong kho bạc của chính phủ dưới dạng dự trữ quốc gia. Dự trữ này không phải để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi của công chúng, mà chúng nhằm thực hiện 3 công dụng chính:
+Nó là một công cụ để chính phủ (cụ thể là ngân hàng trung ương) can thiệp vào thị trường vàng, ngoại tệ
+Nó là một công cụ để chống lại lạm phát
+Nó là công cụ đo lường sức khỏe của nền kinh tế. Nếu khối lượng dự trữ vàng và ngoại tệ của một nước tăng từ năm này sang năm khác, biểu hiện nền kinh tế đó phát triển vững mạnh. Ngược lại, khi dự trữ vàng, ngoại tệ giảm thiểu từ năm này sang năm khác, nó báo hiệu những khó khăn trong nền kinh tế. Ngoài ra, khối lượng dự trữ vàng và ngoại tệ của một nước còn là tiêu chuẩn để đánh giá khả năng hoàn trả của một nước đối với nước ngoài. Một nước không tích lũy được khối dự trữ vàng và ngoại tệ hoặc khối dự trữ đó giảm xuống số âm sẽ gặp rất nhiều khó khăn về mặt kinh tế. Trên trường quốc tế bị cô lập, vì không nước nào dám quan hệ khăng khít với nước này, các nguồn trợ giúp quốc tế dần dần bị mất đi nếu không có chương trình tái cấu trúc nền kinh tế hữu hiệu. Mặt khác, về mặt quốc nội, hoạt động kinh tế bất ổn triền miên. Do vậy, mặt dù dự trữ vàng và ngoại tệ của một nước, tuy không phải là nguyên nhân gây nên giá trị tiền tệ quốc nội, nhưng nó là cơ sở để tạo niềm tin nơi giá trị đồng tiền quốc nội và đảm bảo giá trị tiền tệ quốc ngoại.
Bên cạnh dự trữ chính thức là dự trữ không chính thức nằm rài rác ở các ngân hàng trung gian, ở các tổ chức kinh tế và trong dân chúng. Vàng hoặc ngoại tệ đến tay các chủ thể này bằng nhiều con đường khác nhau. Dự trữ không chính thức hình thành một thị trường mua bán diễn biến rất sôi động, giá cả trên thị trường này hết sức nhạy bén và ảnh hưởng sâu sắc đến thị trường hàng hóa cũng như hoạt động chung của toàn bộ nền kinh tế. Chính vì thế ngân hàng trung ương với tư cách là cơ quan quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước phải can thiệp vào thị trường vàng, ngoại tệ khi cần thiết. Cách làm phổ biến nhất là thực hiện các nghiệp vụ mua bán trên thị trường này. Bằng việc tung ra một lượng tiền mặt nhất định vào thị trường để mua một số ngoại tệ nào đó và vàng, ngân hàng trung ương một mặt làm tăng dự trữ quốc gia, mặt khác nó làm tăng lưu lượng tiền mặt trong nền kinh tế, và đây chính là phương thức phát hành tiền qua ngõ thị trường vàng và ngoại tệ.
• Phát hành cân đối:
Mỗi khi có sự gia tăng một cách không chủ động của các khoản mục bên tài sản có, buộc ngân hàng trung ương phải phát hành thêm tiền để cân đối nợ có trong bảng quyết toán của mình. Thông thường những hình thức gia tăng tài sản, sản phẩm một cách thụ động trong nền kinh tế và trong tài khoản của ngân hàng trung ương xuất phát từ các nguyên nhân sau:
+Chính phủ nhận được viện trợ phát triển của nước ngoài dưới dạng hàng hóa, vàng và ngoại tệ.
+Chính phủ vay nợ nước ngoài để phát triển kinh tế.
+Các tổ chức kinh tế, các ngân hàng trong nước vay nợ nước ngoài.
+Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào tăng mạnh.
+Nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn mức bình thường.
Từ những nguyên nhân trên đã dẫn đến sự tăng lên của USD, SDR, ngoại tệ khác, tài sản khác và các loại sản phẩm dịch vụ trong nền kinh tế bắt buộc ngân hàng trung ương phải phát hành thêm tiền mặt để giữ cho giá cả hàng hóa ổn định. Mặt khác, một bộ phận lớn SDR, ngoại tệ và tài sản khác sau khi từ nước ngoài tràn vào trong nước sẽ được chính phủ, các ngân hàng trung gian hoặc các tổ chức kinh tế sử dụng dưới dạng ký quỹ cho vay tiền ở ngân hàng trung ương. Đây chính là lý do để vụ phát hành phải đưa thêm một lượng tiền mặt vào lưu thông.
3.2. Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng
Trên cơ sở độc quyền phát hành tiền, ngân hàng trung ương thực hiện việc cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế thông qua việc cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian và kiểm soát quá trình tạo tiền của các ngân hàng trung gian – khách hàng của ngân hàng trung ương.
3.2.1. Ngân hàng trung ương mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian
Thông thường, các ngân hàng trung gian không sử dụng hết nguồn vốn của mình để cho vay mà duy trì một mức dự trữ nhất định để đảm bảo khả năng thanh toán. Dự trữ gồm tiền mặt tại quỹ và tiền gửi tại ngân hàng trung ương và các ngân hàng khác. Bất cứ một ngân hàng trung gian nào cũng đều phải mở tài khoản và gửi tiền vào ngân hàng trung ương. Tiền gửi đó gồm 2 loại:
- Tiền gửi dự trữ bắt buộc
Tiền gửi dự trữ bắt buộc áp dụng bắt buộc đối với các ngân hàng trung gian có huy động vốn tiền gửi của công chúng. Mức dự trữ cao hay thấp tùy theo quy định của ngân hàng trung ương trong từng thời kỳ cho phù hợp với chính sách tiền tệ.
Mục đích của việc bắt buộc dự trữ này là để giới hạn mức tín dụng tối đa mà ngân hàng trung gian có thể cung cấp, tránh trường hợp các ngân hàng trung gian huy động được bao nhiêu cho vay bấy nhiêu dẫn đến mất khả năng thanh toán, ảnh hưởng đến quyền lợi của người gửi tiền và nền kinh tế. Bên cạnh đó, việc tập trung dự trữ của ngân hàng trung gian tại ngân hàng trung ương còn là một phương tiện để ngân hàng trung ương có thêm quyền lực điều khiển hệ thống ngân hàng, thực thi chính sách tiền tệ.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của thị trường tiền tệ, các hình thức bảo hiểm tiền gửi ra đời đã giảm bớt khả năng xảy ra nhu cầu rút tiền bất thường. Vì vậy, tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngày càng giảm ở hầu hết các quốc gia. Hiện nay, tỷ lệ dự trữ bắt buộc thường được đề cập đến với tư cách là công cụ của chính sách tiền tệ.
- Tiền gửi thanh toán
Ngoài tiền gửi dự trữ bắt buộc, các ngân hàng trung gian còn gửi thêm khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng trung ương. Mục đích nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán thường xuyên giữa các ngân hàng với nhau và để điều chỉnh mức dự trữ bắt buộc khi cần. Bên cạnh đó, các ngân hàng trung gian mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng trung ương còn giúp ngân hàng trung ương có thể tận dụng nguồn vốn tạm thời dư thừa của các ngân hàng trung gian để thực hiện các chức năng của mình.
3.2.2. Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian
Ngân hàng trung ương thực hiện cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian nhằm đảm bảo cho nền kinh tế đủ phương tiện thanh toán cần thiết trong từng thời kỳ nhất định. Mặt khác, thông qua đó để điều tiết lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế theo yêu cầu của chính sách tiền tệ.
Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng trung gian sử dụng vốn tập trung, huy động được để cho vay đối với nền kinh tế. Khi xuất hiện nhu cầu vay tiền ngân hàng trung ương làm phương tiện thanh toán, các ngân hàng này được ngân hàng trung ương cấp tín dụng theo những điều kiện nhất định, phù hợp yêu cầu chính sách tiền tệ.
Hoạt động cho vay từ ngân hàng trung ương đối với các ngân hàng trung gian là một nghiệp vụ phát hành. Xét ở góc độ đó, ngân hàng trung ương có vai trò chủ động trong quá trình cho vay. Tuy nhiên, không phải lúc nào ngân hàng trung ương cũng có thể chủ động được, mà có những trường hợp ngân hàng trung ương thụ động trong việc cho vay, đó là khi cần phải cứu các ngân hàng trung gian thoát khỏi bở vực phá sản do mất khả năng thanh toán. Do hoạt động chính của ngân hàng trung gian là đi vay để cho vay và hoạt động này không phải bao giờ cũng thuận lợi. Những đợt rút tiền ồ ạt của dân chúng vì nhiều lý do ( chẳng hạn: lãi suất trở nên thấp so với lạm phát, ngân hàng mất lòng tin của dân chúng,…) dễ làm cho ngân hàng trung gian mất khả năng thanh toán. Trong trường hợp này, ngân hàng trung gian không thể thu hồi tiền cho vay về kịp để chi trả, không còn chỗ vay mượn nào khác, tìm đến ngân hàng trung ương vay tiền như là một phương cách cuối cùng. Trong trường hợp này ngân hàng trung ương đóng vai trò là người cho vay cuối cùng đối với các ngân hàng trung gian.
Tuy nhiên cần phải để ý: nếu ngân hàng trung ương dễ dãi trong việc cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian thì sẽ tạo cho ngân hàng trung gian tâm lý ỷ lại, làm cho độ rủi ro trong hoạt động ngân hàng tăng cao. Chẳng hạn, nếu một ngân hàng trung gian biết được ngân hàng trung ương sẽ cấp tín dụng cho nó khi gặp khó khăn, ngân hàng trung gian này sẽ chấp nhận nhiều rủi ro hơn trong kinh doanh vì cho rằng ngân hàng trung ương sẽ cho vay trong trường hợp xấu nhất. Đặc biệt là những ngân hàng lớn (đây là những ngân hàng mà sự phá sản của nó có thể gây nên một sự khủng hoảng tài chính-tiền tệ. Đây là một điều nguy hiểm cho nền kinh tế. Do vậy ngân hàng trung ương cần rất thận trọng, không sử dụng thường xuyên vai trò người cho vay cuối cùng của mình.
Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian bằng nhiều phương pháp khác nhau:
- Tái chiết khấu
Ngân hàng trung ương mua lại những phiếu nợ chưa đến hạn mà ngân hàng trung gian đã chiết khấu cho khách hàng trước đây để hưởng lợi tức tái chiết khấu, nhưng thực ra thông qua nghiệp vụ này mà ngân hàng trung ương có thể giúp cho các ngân hàng thỏa mãn được nhu cầu thanh toán, đồng thời ngân hàng trung ương thực hiện việc cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế theo yêu cầu của chính sách tiền tệ. Trong nghiệp vụ tái chiết khấu, lãi suất tái chiết khấu là công cụ quan trọng hàng đầu, có thể tác động đến việc mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tín dụng trong nền kinh tế.
- Cho vay bổ sung nguồn vốn ngắn hạn cho các ngân hàng trung gian.
- Cho vay bù đắp vốn trong thanh toán liên ngân hàng.
3.2.3. Ngân hàng trung ương là trung tâm thanh toán của các ngân hàng
Gắn với nghiệp vụ phát hành tiền, nghiệp vụ gửi tiền và cho vay đối với các ngân hàng trung gian, ngân hàng trung ương là đầu mối thanh toán tiền ngân hàng, giúp cho các ngân hàng trung gian thực hiện thông suốt trong quan hệ thanh toán với nhau xuất phát từ sự phát triển dịch vụ thanh toán phục vụ khách hàng của họ
Hoạt động của Trung tâm thanh toán gắn liền với sự phát triển dịch vụ thanh toán của các ngân hàng trung gian, tạo lập mạng lưới thanh toán liên hoàn trong phạm vi cả nước, cùng với việc cải tiến, hiện đại hóa công nghệ thanh toán có ý nghĩa quyết định cho việc tập trung các luồng chu chuyển tiền tệ vận động qua ngân hàng.
Nghiệp vụ thanh toán của ngân hàng trung ương được tiến hành bằng các phương thức:
- Thanh toán từng lần
Ngân hàng trung ương thực hiện thanh toán theo yêu cầu của các ngân hàng trung gian căn cứ trên chứng từ và lệnh chi của họ.
Mỗi khi có nhu cầu thanh toán, các ngân hàng trung gian gửi các chứng từ thanh toán đến ngân hàng trung ương yêu cầu trích tiền từ tài khoản của mình để trả cho ngân hàng thụ hưởng.
- Thanh toán bù trừ
Ngân hàng trung ương là trung tâm tổ chức thanh tóan bù trừ giữa các ngân hàng, kể cả kho bạc nhà nước.
Việc thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng được tiến hành định kỳ hoặc cuối mỗi ngày làm việc. Việc thanh toán được dựa trên cơ sở trao đổi các chứng từ thanh toán nợ kèm theo bảng kê khai thanh toán bù trừ của các ngân hàng hoặc thực hiện bù trừ thông qua hệ thống vi tính, số dư cuối cùng được thanh toán bằng cách trích tài khoản của người phải trả nợ tại ngân hàng trung ương.
3.2.4. Ngân hàng trung ương thực hiện việc quản lý nhà nước đối với hệ thống ngân hàng
Ngân hàng trung ương là cơ quan quản lý và điều tiết hoạt động của hệ thống ngân hàng, cụ thể:
- Ngân hàng trung ương thẩm định và cấp giấy chứng nhận hoạt động cho ngân hàng trung gian
- Ngân hàng trung ương quy định nội dung, phạm vi hoạt động kinh doanh và các quy chế nghiệp vụ đòi hỏi các ngân hàng trung gian phải tuân thủ, các hệ số an toàn trong quá trình hoạt động của ngân hàng trung gian.
- Ngân hàng trung ương điều tiết các hoạt động kinh doanh của ngân hàng trung gian bằng những biện pháp kinh tế và hành chính. Chẳng hạn như ngân hàng trung ương quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng, ban hành chính sách lãi suất, tỷ lệ hoa hồng, lệ phí áp dụng trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trung gian,…
- Ngân hàng trung ương thanh tra và kiểm soát thường xuyên và toàn diện các hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng, áp dụng các chế tài trong các trường hợp vi phạm pháp luật nhằm đảm bảo cho cả hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định, an toàn và có hiệu quả.
- Ngân hàng trung ương quyết định đình chỉ hoạt động hoặc giải thể đối với các ngân hàng trung gian trong các trường hợp vi phạm nghiêm trọng pháp luật hoặc mất khả năng thanh toán.
3.3. Ngân hàng trung ương là ngân hàng của nhà nước
Ngay từ khi ra đời, ngân hàng trung ương đã được xác định là ngân hàng của nhà nước. Chức năng này của ngân hàng trung ương thể hiện ở một số điểm:
- Ngân hàng trung ương thuộc sở hữu nhà nước
- Ban hành các văn bản pháp quy theo thẩm quyền của mình về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; kiểm tra thực hiện các văn bản pháp luật có liên quan.
- Mở tài khỏan, nhận và trả tiền gửi của Kho bạc nhà nước
- Tổ chức thanh toán cho Kho bạc nhà nước trong quan hệ thanh toán với các ngân hàng
- Làm đại lý cho Kho bạc nhà nước trong một số nghiệp vụ
- Bảo quản dự trữ quốc gia về ngoại hối, các chứng từ có giá
- Cung cấp tín dụng và tạm ứng cho Ngân sách nhà nước trong những trường hợp cần thiết.
- Thay mặt nhà nước quản lý các hoạt động tiền tệ - tín dụng và thanh toán đối nội, đối ngoại của đất nước.
- Ngân hàng trung ương thay mặt chính phủ ký kết các hiệp định tiền tệ, tín dụng và thanh toán với nước ngoài và tham gia với cương vị là thành viên của một số tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế.
IV. VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
4.1. Vai trò điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông
Mức cung tiền có tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế thông qua sự thúc đẩy mức tăng, giảm tổng sản phẩm quốc nội. Do vậy điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông phù hợp với yêu cầu ổn định và phát triển kinh tế giữ vị trí quan trọng bậc nhất trong các nhiệm vụ của ngân hàng trung ương.
Ngân hàng trung ương thực hiện vai trò này thông qua các công cụ điều tiết trực tiếp và gián tiếp: lãi suất, hạn mức tín dụng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở,…
4.2. Vai trò thiết lập và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế
Ngân hàng trung ương tham gia vào việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm thiết lập một cơ cấu kinh tế hợp lý và có hiệu quả cao, phù hợp với thực tiễn nền kinh tế đất nước và hội nhập với sự phát triển kinh tế trong khu vực và trên thế giới.
4.3. Vai trò ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia
Để ổn định sức mua đồng tiền quốc gia, ngân hàng trung ương góp phần cân đối tổng cầu và tổng cung của toàn xã hội thông qua việc ổn định sức mua đối nội của đồng tiền quốc gia. Bên cạnh đó, ngân hàng trung ương tác động mạnh đến cân đối cung cầu ngoại tệ để giữ vững tỷ giá hối đoái, góp ổn ổn định sức mua đối ngoại của đồng tiền quốc gia. Từ đó vừa đẩy mạnh xuất khẩu, vừa tăng cường nhập khẩu phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
4.4. Vai trò chỉ huy đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng
Với chức năng ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng trung ương chỉ huy toàn bộ hệ thống ngân hàng. Việc chỉ huy hệ thống ngân hàng phải được thực hiện bằng những định hướng có căn cứ khoa học, sự nắm bắt các tín hiệu thị trường nhanh nhạy, sự phân tích sắc bén các diễn biến trong các lĩnh vực tín dụng, thanh toán, thị trường tiền tệ, thị trường vốn,…và đưa ra các giải pháp điều chỉnh hữu hiệu.
Việc chỉ huy của ngân hàng trung ương đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng phải dựa vào hành lang pháp lý nghiêm ngặt, đội ngũ cán bộ điều hành, cán bộ nghiệp vụ thành thạo về chuyên môn, trong sạch về phẩm chất.
V CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
5.1. Khái niệm
Chính sách lưu thông tiền tệ hay chính sách tiền tệ là quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay ngân hàng trung ương để đạt được những mục đích đặc biệt- như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế. Chính sách lưu thông tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thể trực tiếp hay gián tiếp thông qua các nghiệp vụ thị trường mở; qui định mức dự trữ bắt buộc; hoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối.
Trong nền kinh tế, có nhiều chính sách vĩ mô, mỗi chính sách đều có vị trí và vai trò riêng của nó, trong đó chính sách tiền tệ luôn được coi là một chính sách quan trọng, có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều chính sách vĩ mô khác.
Ổn định tiền tệ và nâng cao sức mua đồng tiền trong nước luôn được coi là mục tiêu có tính chất dài hạn. Ngân hàng trung ương điều hành chính sách tiền tệ phải kiểm soát được tiền tệ làm sao cho phù hợp giữa khối lượng tiền và tổng sản phẩm quốc dân, giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ, giữa tiền và hàng, không gây thừa hoặc thiếu tiền so với nhu cầu lưu thông.
Có thể nói
Chính sách tiền tệ là hệ thống các quan điểm, các chủ trương và biện pháp của Nhà nước nhằm tác động và điều chỉnh các hoạt động về tiền tệ - tín dụng, ngân hàng và ngoại hối, tạo ra sự ổn định của lưu thông tiền tệ để thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển.
Xét cho cùng, chính sách tiền tệ có thể xác định theo một trong hai hướng sau:
- Chính sách tiền tệ mở rộng là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế nhằm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm. Trong trường hợp này, chính sách tiền tệ nhằm vào chống suy thoái.
- Chính sách tiền tệ thắt chặt là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế nhằm hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế. Trong trường hợp này, chính sách tiền tệ nhằm vào việc kiềm chế lạm phát.
Chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản, chủ yếu nhất của Ngân hàng trung ương. Có thể coi chính sách tiền tệ là linh hồn xuyên suốt trong mọi hoạt động của Ngân hàng trung ương. Các hoạt động khác của ngân hàng trung ương đều nhằm thực thi chính sách tiền tệ đạt được các mục tiêu của nó.
5.2. Mục tiêu
Trong nền kinh tế thị trường, nhiệm vụ chung của chính sách tiền tệ là một mặt cung ứng đủ tiền cho nền kinh tế, mặt khác đảm bảo sự ổn định giá trị đối nội và đối ngoại của đồng tiền, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Điều này có nghĩa là chính sách tiền tệ theo đuổi các mục tiêu sau:
5.2.1. Kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả, ổn định sức mua của đồng tiền
Trong điều kiện lưu thông tiền vàng hay tiền giấy tự do chuyển đổi ra vàng thì giá trị tiền tệ luôn luôn được ổn định do cơ chế tự phát của tiền vàng.
Trong điều kiện lưu thông tiền giấy không được tự do chuyển đổi ra vàng, lạm phát luôn là khả năng tiềm tàng, ngân hàng trung ương coi việc kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ. Kiểm soát lạm phát nhằm ổn định giá cả hàng hóa, dịch vụ là tiền đề cho việc phát triển kinh tế lâu dài, đảm bảo ổn định đời sống người lao động.
Thông qua chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương có thể góp phần quan trọng trong việc kiểm soát lạm phát. Với chính sách tiền tệ mở rộng, lượng cung tiền trong nền kinh tế sẽ tăng, giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên dẫn đến tình trạng lạm phát. Ngược lại, với chính sách tiền tệ thắt chặt, hạn chế lượng cung tiền trong nền kinh tế, giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ giảm xuống, tỷ lệ lạm phát sẽ giảm.
Kiểm soát lạm phát được biểu hiện trước hết ở chỗ ổn định giá trị đối nội của đồng tiền ( sức mua của nó đối với hàng hóa và dịch vụ trên thị trường trong nước) và giá trị đối ngoại của đồng tiền (được đo bằng tỷ giá hối đoái thả nổi). Trong nền kinh tế mở, tỷ giá đồng tiền được các quốc gia đặc biệt quan tâm. Bởi vì, một sự tăng lên trong giá trị đồng bản tệ so với ngoại tệ sẽ hạn chế xuất khẩu. Ngược lại, giá trị đồng bản tệ giảm xuống so với ngoại tệ sẽ khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.
Giá trị đối nội và đối ngoại của đồng tiền có quan hệ mật thiết với nhau. Muốn ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế - xã hội, nhà nước phải có biện pháp ổn định giá cả hàng hóa và dịch vụ trong nước cũng như ổn định tỷ giá hối đoái.
5.2.2 Tăng trưởng kinh tế
Một nền kinh tế phát triển bền vững với tốc độ tăng trưởng ổn định là mục tiêu của bất kỳ chính sách kinh tế vĩ mô nào. Khi nền kinh tế có mức tăng trưởng cao, sẽ nâng cao thu nhập của người lao động, đảm bảo các chính sách xã hội được thỏa mãn, trên cơ sở đó ổn định về chính trị và xã hội.
Thực hiện mục tiêu này, ngân hàng trung ương thường cung thêm một khối lượng tiền vào lưu thông. Khi khối tiền tăng lên, lãi suất tín dụng thường giảm xuống, kích thích đầu tư, tăng tổng sản phẩm quốc nội. Mặt khác, khi tăng khối lượng tiền làm tăng tổng cầu, kích thích gia tăng sản xuất. Ngược lại, khối lượng tiền giảm, đầu tư giảm, tổng sản phẩm quốc nội giảm.
5.2.3. Tạo công ăn việc làm
Cùng với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chính sách tiền tệ cũng hướng vào mục tiêu tạo công ăn việc làm cho mỗi người, nhất là đối với các quốc gia chưa phát triển. Chính sách tiền tệ chỉ có thể hướng vào việc tạo ra công ăn việc làm nhiều hơn, thông qua các tác động để mở rộng đầu tư, mở rộng hoạt động kinh tế. Chống thất nghiệp, tạo công ăn việc làm chỉ có thể đạt tới mức nhân dụng cao nhất, khó có thể toàn dụng nhân công. Muốn đạt được mục tiêu về công ăn việc làm thì phải chống suy thoái, đạt được mức tăng trưởng ổn định.
Nếu chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương nhằm mở rộng cung ứng tiền tệ thì sẽ tạo điều kiện mở rộng đầu tư sản xuất, các doanh nghiệp và nền kinh tế cần nhiều lao động hơn, công ăn việc làm cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp.
Ngược lại, cung ứng tiền tệ giảm xuống sẽ thu hẹp các hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp và nhà nước cần ít lao động hơn, công ăn việc làm giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng.
Tóm lại, chính sách tiền tệ nhắm vào hai mục tiêu là lãi suất và lượng cung tiền. Thông thường, không thể thực hiện đồng thời hai mục tiêu này. Chỉ để điều tiết chu kỳ kinh tế ở tình trạng bình thường, thì mục tiêu lãi suất được lựa chọn. Còn khi kinh tế quá nóng hay kinh tế quá lạnh, chính sách tiền tệ sẽ nhằm vào mục tiêu trực tiếp hơn, đó là lượng cung tiền.
5.3. Nội dung của chính sách tiền tệ
Nội dung của chính sách tiền tệ xét về mặt định tính ta có thể thấy đó là chính sách thắt chặt tiền tệ hoặc chính sách mở rộng tiền tệ. Nếu nền kinh tế đang ở trong tình trạng lạm phát cao đòi hỏi phải thực hiện một chính sách thắt chặt tiền tệ để chống lạm phát. Ngược lại, nếu nền kinh tế đang ở trong tình trạng suy thoái thì chính sách tiền tệ cần phải được mở rộng. Về mặt định lượng chính sách tiền tệ cần phản ánh khối lượng tiền tệ cung ứng tăng lên (hay giảm bớt) trong một khoảng thời gian nhất định bao gồm tiền mặt và chuyển khoản.
Để xây dựng các giải pháp tác động và sử dụng các công cụ để vận hành chính sách tiền tệ, nội dụng của chính sách tiền tệ gồm ba bộ phận hợp thành: chính sách cung ứng và điều hòa khối tiền, chính sách tín dụng và chính sách về ngoại hối.
5.3.1. Chính sách tín dụng
Thực chất của chính sách tín dụng là cung ứng phương tiện thanh toán cho nền kinh tế quốc dân thông qua các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, dựa trên các quỹ cho vay được tạo lập từ các nguồn tiền của xã hội với một hệ thống lãi suất mềm dẻo phù hợp với sự vận động của nền kinh tế thị trường.
Khi các ngân hàng trung gian thiếu phương tiện thanh toán, họ đến ngân hàng trung ương xin tái cấp vốn. Ngân hàng trung ương là người cho vay cuối cùng, đóng vai trò chủ nợ đối với các tổ chức tín dụng.
5.3.2. Chính sách ngoại hối
Để ổn định giá trị ngoại tệ của đồng tiền quốc gia, ngân hàng trung ương thực hiện các nhiệm vụ giao dịch về tài chính và tiền tệ đối ngoại trên các phương diện sau:
- Quản lý ngoại hối
- Lập và theo dõi diễn biến của cán cân thanh toán quốc tế
- Thực hiện các nghiệp vụ hối đoái
- Xây dựng và thống nhất quản lý dự trữ ngoại hối của đất nước
- Phấn đấu ổn định tỷ giá hối đoái để kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả trong nước
- Quan hệ với ngân hàng trung ương khác, các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế nhằm tìm kiếm nguồn tài trợ nước ngoài có điều kiện ưu đãi, khuyến khích đầu tư nước ngoài và thu hút kiều hối
- Tổ chức quản lý nợ nước ngoài
Chính sách ngoại hối được thể hiện trên các phương diện sau:
Chính sách hối đoái
Chính sách hối đoái thường hướng vào việc ngăn chặn tích trữ ngoại hối trong các tổ chức, cá nhân; quản lý việc mua bán ngoại tệ, thu hút các nguồn ngoại tệ vào ngân hàng trung ương.
Dự trữ ngoại hối
Mỗi nước đều có dự trữ ngoại hối tùy thuộc vào khả năng của nền kinh tế đó. Dự trữ ngoại hối phục vụ cho nhu cầu thanh toán quốc tế và điều chỉnh khối lượng tiền trong nước. Khi ngân hàng trung ương mua ngoại tệ sẽ làm gia tăng dự trữ ngoại tệ, gia tăng khối lượng tiền tệ và ngược lại. Qua việc mua bán ngoại hối, ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường, chủ động tác động vào tỷ giá hối đoái theo ý muốn nhất định.
Tỷ giá hối đoái
Phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ. Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng trực tiếp tới xuất nhập khẩu.
Nếu tỷ giá hối đoái quá thấp sẽ sẽ bất lợi cho xuất khẩu, khuyến khích nhập khẩu.
Nếu tỷ giá hối đoái quá cao sẽ bất lợi cho nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu.
5.3.3 Chính sách cung ứng và điều hòa khối tiền
Tùy theo tình trạng ngân sách có cân bằng hay không mà ảnh hưởng tich cực hay tiêu cực với những mức độ khác nhau đối với lưu thông tiền tệ.
Trường hợp ngân sách thiếu hụt sẽ có các cách tài trợ thiếu hụt: vay dân, vay các ngân hàng trung gian, vay ngân hàng trung ương, vay nước ngoài. Trong đó vay của ngân hàng trung ương sẽ làm tăng mạnh khối lượng tiền tệ , gây áp lực lạm phát về sau.
5.4. Những công cụ để thực thi chính sách tiền tệ
Để thực thi chính sách tiền tệ, thực hiện chức năng và vai trò của mình, ngân hàng trung ương đã sử dụng hàng loạt các công cụ như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất, nghiệp vụ thị trường mở,… Mỗi loại công cụ có cơ chế vận hàng riêng và ưu nhược điểm khác nhau. Tùy thuộc vào tình hình thực tế của nền kinh tế để sử dụng các công cụ này một cách phù hợp, hiệu quả.
5.4.1. Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các ngân hàng trung gian phải duy trì theo quy định của ngân hàng trung ương. Nó được xác định bằng tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi trên một khoảng thời gian nhất định.
Dự trữ bắt buộc được xác định bằng cách
Tiền dự trữ = Tổng tiền gửi phải * Tỷ lệ dự trữ
bắt buộc tính dự trữ bắt buộc bắt buộc
Về cơ cấu mức dự trữ bắt buộc được phép tồn tại dưới 3 hình thức: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi bắt buộc ở ngân hàng trung ương, dự trữ bằng chứng khóan, đấy là công cụ trực tiếp và có hiệu nghiệm.
Tùy theo điều kiện của từng nước, trong từng thời kỳ, có nhiều quy định về việc xác định tỷ lệ dự trữ bắt buộc khác nhau.
Việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của các ngân hàng trung gian và quan trọng hơn là để ngân hàng trung ương kiểm soát quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng.
Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng, các yếu tố khác không đổi ðkhả năng cho vay và đầu tư của ngân hàng trung gian giảm ð lượng tiền trong lưu thông giảm.
Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc giảm ð khả năng cho vay và đầu tư của ngân hàng trung gian được mở rộng ð tăng lượng tiền trong lưu thông
Việc tăng (giảm) tỷ lệ dự trữ bắt buộc có nghĩa là ngân hàng trung ương đang thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt (nới lỏng), tức là thắt chặt (nới lỏng) khả năng tạo tiền của ngân hàng trung gian.
Việc tăng (giảm) tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng có nghĩa là làm tăng (giảm) chi phí tín dụng của các ngân hàng trung gian.
Các nhà nghiên cứu cho thấy rằng chỉ cần một sự thay đổi nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì tác động của nó đến khối tiền tệ và khối tín dụng rất lớn.
5.4.2. Tái cấp vốn
Tái cấp vốn là cách để ngân hàng trung gian đưa tiền ra lưu thông, đồng thời khống chế về số lượng và chất lượng tín dụng của các ngân hàng trung gian.
Nếu căn cứ vào mục đích, các khoản tái cấp vốn của ngân hàng trung ương đối với các ngân hàng trung gian bao gồm: cho vay thanh toán đối với các ngân hàng thiếu hụt tạm thời, cho vay bổ sung nguồn vốn tín dụng ngắn hạn, cho vay thời vụ để đáp ứng nhu cầu thời vụ của một số ngân hàng.
Thông qua việc ấn định lãi suất tái cấp vốn, ngân hàng trung ương tác động đến chi phí vay mượn của các ngân hàng trung gian tại ngân hàng trung ương:
Nếu lãi suất tái cấp vốn tăng lên ð chi phí khoản tiền vay từ ngân hàng trung ương tăng lên ð ngân hàng trung gian bất lợi trong vay vốn ð ngân hàng trung gian không có khả năng bành trướng tín dụng
Nếu lãi suất tái cấp vốn giảm xuống ð chi phí khoản tiền vay từ ngân hàng trung ương giảm xuống ð ngân hàng trung gian thuận lợi trong vay vốn ð ngân hàng trung gian có khả năng bành trướng tín dụng
Tái cấp vốn là nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng trung ương tất yếu sẽ làm tăng lượng tiền cung ứng, vì vậy phải đòi hỏi tiến hành một cách thận trọng dựa trên hai tiêu chuẩn: định lượng và định tính.
- Về mặt định lượng
Cần xem lại hạn mức tín dụng mà ngân hàng trung ương dành cho ngân hàng trung gian có và còn hay không
- Về mặt định tính
Cần xem xét các hồ sơ tín dụng và các chứng từ xin tái chiết khấu có lành mạnh hay không và có xứng đáng được tiếp vốn hay không
Ở các nước công cụ tái cấp vốn được sử dụng một cách phổ biến. Qua công cụ tái cấp vốn, ngân hàng trung ương là người cho vay cuối cùng.
Ngoài ra chính sách chiết khấu, tái chiết khấu còn là công cụ đắc lực trong ảnh hưởng phát triển kinh tế xã hội. Đối với chính sách kích thích xuất khẩu ngân hàng trung ương sẽ ưu tiên tái chiết khấu các thương phiếu xuất khẩu hoặc nâng hạn mức tái chiết khấu đối với các thương phiếu đó. Tuy nhiên, khi chấp nhận tái chiết khấu là ngân hàng trung ương đã tăng khối lượng tiền cung ứng. Vì vậy, ngân hàng trung ương chỉ có thể chấp nhận tái chiết khấu theo ba điều kện:
• Ngân hàng thương mại đó phải còn hạn mức tín dụng chưa sử dụng hết.
• Khối lượng tiền cung ứng bằng con đường tín dụng, tức là chi tiêu tín dụng cho nền kinh tế còn được phép cung ứng thêm.
• Bản thân các ngân hàng thương mại đem hối phiếu để tái chiết khấu phải là những hối phiếu tốt.
Mỗi công cụ đều có ưu nhược điểm riêng, tái chiết khấu có ưu và nhược điểm sau:
Ưu điểm: Tái cấp vốn được thực hiện trên nền các giấy tờ có giá nên thời hạn vay mượn là rõ ràng, việc hoàn trả nợ tương đối chắc chắn, tiền vay vận động phù hợp với sự vận động của quy luật cung cầu thị trường.
Nhược điểm:Ngân hàng trung ương bị thụ động do yếu tố chủ động vay hay không nằm ở ngân hàng trung ương.
5.4.3. Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua bán các chứng khoán ngắn hạn của Ngân hàng trung ương trên thị trường tiền tệ.
Là công cụ điều hành chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương sẽ phát hành tiền hoặc thu hẹp khối tiền của nền kinh tế thông qua việc mua hoặc bán các trái phiếu ngắn hạn. Tức là thông qua nghiệp vụ của thị trường mở mà ngân hàng trung ương có thể làm cho “dự trữ” của các ngân hàng thương mại tăng lên hoặc giảm xuống và vì vậy tác động đến khả năng cấp tín dụng của ngân hàng thương mại làm ảnh hưởng đến khối tiền tệ của nền kinh tế.
Khi cần, ngân hàng trung ương bán trái phiếu để thu hẹp khối tiền tệ trong trường hợp lạm phát có xu hướng gia tăng. Ngược lại, ngân hàng trung ương mua trái phiếu sẽ khuyến khích mở rộng tín dụng, khối tiền cung ứng tăng, trong trường hợp muốn mở rộng phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm…
Thị trường mở xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào những năm 20. Nó là công cụ tác động nhanh, linh hoạt và chủ động. Nó có thể hạn chế được những khuyết điểm của công cụ chiết khấu. Tuy nhiên hạn chế của nó là chỉ có thể áp dụng trong điều kiện mà hầu hết tiền trong lưu thông nằm ở tài khoản của ngân hàng. Thị trường mở được xem là một trong những nơi mà ngân hàng trung ương phát hành tiền vào guồng máy kinh tế hoặc rút bớt khối lượng tiền tệ lưu thông. Nếu như chính sách tái chiết khấu có tác động tổng hợp và có những hạn chế tạm thời thì nghiệp vụ thị trường mở là công cụ tác động nhanh linh hoạt.
Ở các nước phát triển, nghiệp vụ thị trường mở là công cụ quan trọng trong việc thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương.
5.4.4 Lãi suất
Là một công cụ chủ yếu để điều chỉnh gián tiếp giữa cung và cầu tín dụng. Để phát huy được tác dụng của công cụ lãi suất, cần quán triệt một số điểm có tính nguyên tắc khi vận dụng công cụ lãi suất:
• Lãi suất thực không thể cao hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế (biểu hiện qua tỷ lệ tăng tổng sản phẩm quốc nội).
• Lãi suất cho vay bình quân phải lớn hơn lãi suất huy động bình quân. Phần lớn hơn phải thỏa mãn bù đắp chi phí, thuế, phòng ngừa rủi ro..và tiền lãi ngân hàng.
• Lãi suất dài hạn phải lớn hơn lãi suất ngắn hạn.
Để sử dụng lãi suất tín dụng với tư cách là công cụ của chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương có thể:
• Ổn định lãi suất: tối đa cho tiền gửi và tối thiểu cho tiền vay hoặc tối đa cho tiền vay và tối thiểu cho tiền gửi (nếu muốn bảo vệ quyền lợi cho khách hàng của ngân hàng thương mại).
• Thả nổi lãi suất: lãi suất sẽ được thả nổi thông qua thị trường tiền tệ, tuy nhiên với tư cách là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ, Ngân hàng trung ương sẽ tác động gián tiếp tới lãi suất tiền gửi và tiền vay của ngân hàng thương mại bằng lãi suất tái chiết khấu để điều tiết cung-cầu tín dụng, điều tiết khối lượng tiền tệ của nền kinh tế. Như vậy trong nền kinh tế thị trường với hệ thống ngân hàng hai cấp trong đó các ngân hàng thương mại nhạy cảm với cơ chế thị trường, thì lãi suất tái chiết khấu của ngân hàng trung ương trở thành công cụ linh hoạt để thực hiện chính sách tiền tệ.
Ngoài ra còn có một số công cụ khác, chẳng hạn:
* Ấn định hạn mức tín dụng đối với các ngân hàng trung gian: ngân hàng trung ương khống chế mức cho vay tối đa đối với các ngân hàng trung gian. Trên cơ sở quy mô, tình hình hoạt động cũng như khả năng huy động vốn của từng ngân hàng trung gian, ngân hàng trung ương tiến hành phân chia hạn mức tín dụng cho từng ngân hàng
*Điều chỉnh tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiên quan hệ cung cầu ngoại hối. Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiện tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư, dự trữ của đất nước. Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông. Tuy nhiên ở nhiều nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ.. Việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái trở nên thực sự cần thiết khi tỷ giá thực tế trên thị trường biến động với biên độ lớn gây phương hại đến lĩnh vực ngoại thương, tín dụng và thanh toán quốc tế. Có nhiều phương pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái như sau: thay đổi lãi suất, can thiệp ngoại hối, nâng cao hoặc phá giá tiền trong nước…
*Can thiệp thị trường vàng và ngoại tệ: khi giá vàng và ngoại tệ trên thị trường biến động lớn thì ngân hàng trung ương sẽ can thiệp trực tiếp bằng cách bán hoặc mua để giữ cho tỷ giá hối đoái ở mức độ thích hợp, nhờ đó các hoạt động kinh tế tài chính không bị ảnh hưởng xấu.
VI. NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
6.1. Sự ra đời và phát triển của ngân hàng nhà nước Việt nam
Sau khi nước Việt nam dân chủ cộng hòa được thành lập, trong khỏang thời gian từ năm 1945 đến tháng 5 năm 1951 trên phần lãnh thổ dưới chế độ dân chủ mới, nước ta không có một loại hình ngân hàng nào, mọi hoạt động thuộc lĩnh vực tiền tệ, tín dụng đều do Bộ tài chính phụ trách.
Ngày 06/05/1951 ngân hàng quốc gia Việt nam được thành lập với tư cách là ngân hàng trung ương, đồng thời kiêm nhiệm chức năng của ngân hàng thương mại. Ngân hàng quốc gia Việt nam có nhiệm vụ:
- Phát hành giấy bạc, điều hòa lưu thông tiền tệ
¬- Huy động vốn của nhân dân, điều hòa và mở rộng tín dụng để phát triển sản xuất
- Quản lý ngân quỹ quốc gia
- Quản lý ngoại tệ và thanh toán các khoản giao dịch với nước ngoài
Sự ra đời của ngân hàng quốc gia Việt nam là một bước ngoặc lịch sử trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng ở nước ta. Lần đầu tiên trong lịch sử dưới chính thể dân chủ mới, nước ta đã thành lập được một ngân hàng mang đầy đủ tính chất độc lập, tự chủ của đất nước.
Tháng 01/1960 ngân hàng quốc gia Việt nam đổi tên thành Ngân hàng nhà nước Việt nam
Thực hiện nghị định 171CP ngày 26/10/1961 của Chính phủ, chức năng và nhiệm vụ của Ngân hàng nhà nước được mở rộng, hệ thống tổ chức được phát triển cả về số lượng và chất lượng, hình thành một hệ thống từ trung ương đến các tỉnh, thành và huyện lỵ nhằm bao quát toàn bộ các hoạt động kinh tế và đóng vai trò trung tâm tiền mặt, trung tâm tín dụng và trung tâm thanh toán của nền kinh tế quốc dân.
Đặc điểm cơ bản của mô hình tổ chức và hoạt động của ngân hàng một cấp thời kỳ này là:
- Một ngân hàng nhà nước duy nhất, có tổ chức trên khắp các địa bàn hành chính tới cấp huyện, hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất trong cả nước.
- Hệ thống ngân hàng nhà nước thực hiện đồng thời hai chức năng quản lý nhà nước và hạch toán kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng.
Ngày 26/03/1988, Chính phủ ra Nghị định 053HĐBT về tổ chức bộ máy ngân hàng nhà nước Việt nam, nội dung chủ yếu là tổ chức thành hệ thống ngân hàng thống nhất trong cả nước gồm hai cấp:
- Ngân hàng cấp I – Ngân hàng trung ương thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tiền tệ - tín dụng và ngân hàng đối với nền kinh tế quốc dân; thực hiện độc quyền phát hành tiền; tổ chức thanh toán trong nền kinh tế; thực hiện một số hoạt động kinh doanh tổng hợp trong hệ thống ngân hàng.
- Ngân hàng cấp II – Ngân hàng chuyên doanh tổ chức kinh doanh tiền tệ trực tiếp đối với nền kinh tế
Mô hình ngân hàng 2 cấp ở Việt nam có đặc điểm nổi bật:
Mô hình ngân hàng 2 cấp là mô hình cho phép phân định rành mạch, rõ ràng giữa các chức năng quản lý nhà nước của Ngân hàng trung ương, với chức năng tác nghiệp kinh doanh của ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng.
 Hoạt động của ngân hàng trung ương là những mặt hoạt động quản lý ở tầm vĩ mô không nhằm mục đích kiếm lợi nhuận mà nhằm mục đích ổn định tiền tệ, ổn định giá cả thị trường, ngoại hối để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, vì vậy nó được phép sử dụng những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, phù hợp với luật pháp để thực hiện nhiệm vụ của mình.
Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác tồn tại hoạt động với tư cách là những doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng và dịch vụ ngân hàng nhằm tìm kiếm lợi nhuận một cách chính đáng góp phần thúc đẩy các ngành sản xuất kinh doanh cùng phát triển.
6.2. Tổ chức bộ máy Ngân hàng nhà nước Việt nam
Ngân hàng nhà nước Việt nam được tổ chức thành hệ thống tập trung thống nhất gồm bộ máy điều hành và hoạt động nghiệp vụ tại trụ sở chính, các chi nhánh ở các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương, các văn phòng đại diện ở trong nước, ở ngoài nước và các đơn vị trực thuộc.
Ngân hàng nhà nước hoạt động dưới sự điều hành của Thống đốc ngân hàng nhà nước là thành viên của Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Thủ tướng chính phủ, trước Quốc hội về lĩnh vực mình phụ trách.
6.3. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Ngân hàng nhà nước Việt nam
6.3.1. Chức năng
Ngân hàng nhà nước Việt nam là cơ quan của chính phủ và là ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam; thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng, ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ; nhằm ổn định giá trị đồng tiền góp phần đảm bảo an toàn hoạt động hệ thống ngân hàng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
6.3.2. Nhiệm vụ và quyền hạn
- Tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước
- Xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia để Chính phủ xem xét trình Quốc hội quyết định và tổ chức thực hiện chính sách này; xây dựng chiến lược phát triển hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng Việt nam
- Xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; ban hành các văn bản pháp luật về tiền tệ và hoạt động
- Cấp và thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng; cấp và thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; quyết định giải thể, chấp nhận chia, tách, hợp nhất, sáp nhập các tổ chức tín dụng
- Kiểm tra, thanh tra hoạt động ngân hàng; kiểm soát tín dụng, xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng
- Quản lý vay và trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ
- Chủ trì lập và theo dõi kết quả thực hiện cán cân thanh toán quốc tế
- Quản lý hoạt động ngoại hối và quản lý hoạt động kinh doanh vàng
- Ký kết, tham gia điều ước quốc tế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng
- Đại diện cho nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam tại các tổ chức tiền tệ và ngân hàng quốc tế trong trường hợp được Chủ tịch nước hay Chính phủ ủy quyền
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ ngân hàng; nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ ngân hàng
- Tổ chức in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền, thực hiện nghiệp vụ phát hành, thu hồi, thay thế, đổi, tiêu hủy tiền
- Thực hiện tái cấp vốn nhằm cung ứng tín dụng ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho nền kinh tế
- Tổ chức hệ thống thanh toán qua ngân hàng cho các ngân hàng, kho bạc nhà nước,…
6.4. Thực trạng Ngân hàng trung ương Việt Nam hiện nay
Đất nước ta đang trên đường hội nhập vào nền kinh tế thế giới , do vậy để có thể tồn tại trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt thì cần thiết phải có sự thay đổi trong cơ cấu, tổ chức điều hành và quản trị của ngân hàng trung ương Việt Nam. Tuy nhiên để làm được điều đó thì trước tiên ta phải khắc phục những hạn chế còn đang tồn tại.
• Thực tế thì ngân hàng trung ương của ta lại được hiểu như 1 cơ quan ngang Bộ. Do đó mà vị thế của NHTW còn chưa được phân biệt rõ ràng ở chính điều luật NHNN năm 1997.
• Mục tiêu hoạt động chưa được xác định rõ ràng thứ tự ưu tiên như: (i) nhằm ổn định giá trị đồng tiền; (ii) góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các TCTD; và (iii) thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo định hướng XHCN
• Mức độ tự chủ , độc lập theo đuổi các mục tiêu hoạt động còn thấp. Đây rõ ràng là 1 hạn chế rất lớn vì kinh nghiệm trên thế giới cho thấy : nếu chính phủ can thiệp quá sâu vào NHTW , nắm quyền kiểm soát tiền tệ sẽ dẫn đến lạm phát bùng nổ. Vì vậy mà cần thiết để NHTW thực hiện chức năng của mình ( kiểm soát chính sách tiền tệ) một cách độc lập . Nhưng theo điều 82 Hiến pháp 1992 và điều 3 luật NHNN quy định : Quốc hội quyết định chính sách tiền tệ còn nhà nước tổ chức , xây dựng và thực hiện chính sách đó.Việc này đã hạn chế thẩm quyền cũng như mức độ độc lập của NHTW trong việc điều hành chính sách tiền tệ.
• Về cơ cấu tổ chức bộ máy còn chưa mang tính khoa học . Do chính phủ còn can thiệp vào NHTW làm giảm tính tự chủ và chưa theo đuổi những mục tiêu hoạt động của mình. Việc phân công bố trí các chức năng nhiệm vụ trong bộ máy còn chồng chéo. Mặt khác thì mạng lưới các chi nhánh của NHTW được bố trí hầu hết tại các tỉnh thành dẫn đến cồng kềnh và gây lãng phí .
• Về đội ngũ cán bộ đang công tác được bố trí không hợp lý dẫn đến tình trạng thừa tại khối hỗ trợ và dịch vụ, trong khi khối giám sát ngân hàng và nghiệp vụ NHTW lại thiếu người.Mặt khác thì chúng ta còn thiếu những cán bộ có năng lực thật sự . Đây là tình trạng chung của hầu hết các doanh nghiệp nhà nước do chưa có những chính sách ưu đãi hợp lý dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám.
• Quyền hạn trao cho thống đốc ( người điều hành và quản lý NHTW)còn rất hạn chế và chưa đầy đủ để thực hiện trách nhiệm của mình một cách hiệu quả. Đây chính là hệ quả từ chính sách của nhà nước mà ta đã đề cập ở trên.
• Ngoài ra trên thực tế thì chưa có một cơ quan giám sát hoạt động của NHTW. Chúng ta đã quy định rất nhiều cơ quan cùng lúc thực hiện chức năng đó nhưng chỉ mang tính hình thức và tỏ ra không hiệu quả.
Những mặt hạn chế mà ta đã đề cập ở trên đã làm giảm đi đáng kể hiệu quả hoạt động của NHTW. Trong bối cảnh nước ta đã gia nhập WTO thì tình hình hoạt động tài chính sẽ có nhiều biến động phức tạp hơn. Với sự gia nhập của hàng loạt tổ chức tài chính nước ngoài thì lĩnh vực dịch vụ tài chính ngân hàng sẽ có nhiều thay đổi bắt nguồn từ nhu cầu cần phải đổi mới để thích nghi với cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt .
Hàng loạt các dịch vụ mới đã được triển khai như thanh toán bằng công nghệ thông tin . Mặt khác hàng loạt các sản phẩm tài chính cũng được đưa ra nhằm đáp ứng yêu cầu thay đổi trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Tất cả những việc đó đòi hỏi cần phải có sự đổi mới ở NHTW nhằm hội nhập một cách toàn diện với các nước trên thế giới.
6.5. Một số giải pháp đề xuất đối với NHTW hiện nay
1. Điều quan trọng hàng đầu là cần phải thay đổi chính sách của nhà nước : xác định rõ ràng mục tiêu hoạt động của NHTW, trao quyền hạn cho NHTW có đủ tự chủ và độc lập để thực hiện đầy đủ các chức năng của mình. Ngoài ra còn phải quy định cơ quan giám sát hoạt động của NHTW một cách rõ ràng cụ thể , tránh mang tính rườm rà ,hình thức .
• Xác định rõ ràng những mục tiêu nào là ưu tiên hàng đầu , quan trọng nhất.Vì để đạt hiệu quả tối ưu thì ta không thể thực hiện cùng lúc nhiều mục tiêu mà phải hy sinh các mục tiêu kém quan trọng hơn.
• Ban hành các chính sách nhằm tạo ra cơ sở pháp lý giúp ngân hàng có thể thực hiện , áp dụng các chính sách tiền tệ một cách độc lập .
2. Về cơ cấu tổ chức bộ máy : cần phải phân công lại một cách hợp lý nhằm thực hiện tốt hơn những mục tiêu của NHTW. Tổ chức và sắp xếp lại mạng lưới chi nhánh nhằm giảm lãng phí , cồng kềnh và nâng cao hiệu quả hoạt động .
• Áp dụng cơ chế quản lý điều hành tập trung , thống nhất , minh bạch và rõ ràng trong các hoạt động. Thành lập những phòng ban giải quyết những vấn đề cấp bách , quan trọng
• Nâng cao vị thế và vai trò của ngân hàng trong việc thực hiện các chính sách tiền tệ
3. Phân công lại bộ máy cán bộ , thu hút thêm nhiều cán bộ có năng lực thực sự bằng các chính sách ưu đãi xứng đáng.
4. Chuyển dần hoạt động quản lý nhân sự thụ động và ngắn hạn sang hoạt động quản trị nguồn nhân lực mang tính tổng thể và định hướng. Đề ra những mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị , đồng thời động viên và giám sát để hoàn thành tốt .
5. Đổi mới những cơ chế quản lý và điều hành và quản trị nhằm nâng cao tính hiệu quả để thích nghi với cạnh tranh ngày càng gay gắt .
6. Ứng dụng những công nghệ tiên tiến hiện đại trong chuyên môn và quản lý.






































TÀI LIỆU THAM KHẢO
*****

1. http://www.saga.vn/dictview.aspx?id=1285
2. http://www.sbv.gov.vn/vn/home/index.jsp
3. http://www.centralbank.vn/vn/home/tinnghiencuu.jsp?tin=322
4. http://www.vnn.vn/kinhte/taichinhnganhang/2005/10/495783/
5. http://vietbao.vn/Kinh-te/Khai-mac-hoi-nghi-pho-thong-doc-ngan-hang-Trung-uong-ASEAN/70118744/47/
6. Chính sách tiền tệ và điều tiết vĩ mô của Ngân hàng Trung ương, Lê Vinh Danh, NXB Tài chính, 2006
7. Nhập môn Tài chính tiền tệ, PGS.TS Sử Đình Thành-TS.Vũ Thị Minh Hằng, NXB ĐHQG TP.Hồ Chí Minh,2006.
***
 
Thích: 4 people

Bình luận bằng Facebook